Giới Thiệu Văn Hoá Vụ

Văn Hóa Vụ là một trong 3 khối của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tiếp nối Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt được Quân Đội Quốc Gia khai sinh ngày 2-12-1950. Hai khối kia là Quân Sự Vụ và Tham Mưu.

TVBQGVN được Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ký nghị định thành lập vào tháng 7 năm 1959, với nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ song toàn để trở thành những nhà lãnh đạo quân sự và hành chánh cho cả thời chiến lẫn thời bình. Một chương trình huấn luyện 4 năm được áp dụng bao gồm hai phương diện quân sự và văn hóa, với trình độ văn hóa tương đương với các trường đại học quốc gia tại Sài gòn, Huế, Đà Lạt.

Vì phải đáp ứng với cuộc chiến tranh chống Cộng đang trở nên khốc liệt nên kể từ tháng 8 năm 1962, TVBQGVN tạm rút ngắn chương trình huấn luyện 4 năm còn 2 năm. Sau khi quân đội đã chiến đấu vững vàng, vào ngày 13 tháng 12 năm 1966, Thủ Tướng Chính Phủ ký nghị định tái áp dụng chương trình 4 năm bắt đầu với khóa 22. Từ đó các tân Sĩ quan tốt nghiệp TVBQGVN đều có trình độ học vấn được Bộ Giáo dục Quốc gia chính thức công nhận ngang hàng với bất cứ trường đại học 4 năm công lập nào của Việt Nam.

Chương trình văn hóa 4 năm tại TVBQGVN bao gồm các môn về cả 3 lãnh vực: khoa học thuần túy, khoa học ứng dụng, và nhân văn xã hội. Sinh viên Sĩ quan (SVSQ) phải theo một thời lượng học hành vất vả hơn các sinh viên dân sự, không những để trau dồi kiến thức mà còn được thực tập để suy luận, phân tích, quyết định nhằm phát triển khả năng lãnh đạo và đáp ứng với mọi tình huống trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết quốc gia. Và để giúp họ thấm nhuần văn hóa dân tộc cũng như theo kịp với đà tiến hóa của thế giới, một chương trình các môn nhân văn xã hội và Anh ngữ thực dụng được áp dụng suốt cả 4 năm học.

Về tổ chức, Văn Hóa Vụ có một Phòng Điều Hành phụ trách hành chánh, và 9 khoa, gồm:

– Khoa Anh Văn
– Khoa Nhân Văn

– Khoa Khoa Học Xã Hội
– Khoa Toán

– Khoa Khoa Học
– Khoa Cơ Khí

– Khoa Công Chánh
– Khoa Kỹ Thuật Điện

– Khoa Kỹ Thuật Quân Sự

CÁC MÔN HỌC

TOÁN
(6 môn
)
KHOA HỌC
(5 môn)
ANH VĂN
(5 môn)

* Giải tích 1A
* Giải tích 1B
* Giải tích 2A
* Giải tích 2B
* Giải tích 3
* Thống kê

* Vật lý 1
* Vật lý 2
* Tân vật lý
* Hóa học vô cơ
* Hóa học hữu cơ

* Anh ngữ 1
* Anh ngữ 2
* Anh ngữ 3
* Anh ngữ 4
* Anh ngữ quân sự

NHÂN VĂN
(5 môn)
KHOA HỌC XÃ HỘI
(8 môn)
KỸ THUẬT ĐIỆN
(5 môn)

* Văn chương VN 1
* Văn chương VN 2
* Sử Âu Mỹ
* Sử Á Việt
* Quân sử

* Tư tưởng chính trị
* Tâm lý
* Lãnh đạo
* Chính thể hiện đại
* Luật
*
Hành chánh công quyền
*Quản trị
* Kinh tế 

* Mạch điện
* Điện tử
* Hệ thống phân tích
* Điện khí 1
* Điện khí 2

CƠ KHÍ
(6 môn)
CÔNG CHÁNH
(6 môn)
KỸ THUẬT QUÂN SỰ
(5 môn)

* Cố thể 1
* Cố thể 2
* Cố thể 3
* Lưu chất 1
* Lưu chất 2
* Máy đây

* Trắc lượng 1
* Trắc lượng 2
* Kiến tạo 1
* Kiến tạo 2
* Thanh hóa
* Xa lộ phi trường

* Quân cụ
* Canh nông
* Khí tượng
* Hàng hải
* Kiến trúc chiến hạm

Tổng cộng gồm 48 môn với khoảng 2970 giờ, không kể giờ thực tập phụ trội.

Mỗi năm học được chia làm hai mùa: Mùa Văn hóa từ tháng 3 cho đến giữa tháng 12, và Mùa Quân sự từ giữa tháng 12 đến tháng 3.

Mùa Văn hóa gồm hai lục cá nguyệt, với mỗi lục cá nguyệt có 3 giai đoạn, mỗi gìai đoạn 6 tuần lễ. Cuối mỗi tuần, giai đoạn, lục cá nguyệt và mùa Văn hóa đều có các kỳ sát hạch ôn. Mỗi lớp học Văn hóa chỉ gồm 16 SVSQ, và 4 toán SVSQ được sắp xếp cùng học một đề tài trong cùng một giờ do 4 giảng viên đảm trách.

Giáo sư đoàn gồm 160 giảng viên, hầu hết là Sĩ Quan Quân đội, cấp bậc từ Chuẩn uý đến Trung tá, tốt nghiệp từ các trường Đại học trong nước hoăc ngoai quốc, cộng với một số nhỏ giáo sư dân chính có bằng Cử nhân, Cao học hay Kỷ sư. Trong số các giảng viên, có khoảng 30% tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ hay các nước khác với bằng MA hay MS.

Cuối mỗi năm học, Hội Đồng Văn Hóa, gồm Văn Hóa Vụ Trưởng, các Trưởng khoa, và Quân Sự Vụ Trưởng, nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN, để duyệt xét kết quả học tập của các SVSQ và quyết định cho lên lớp hay ở lại lớp của từng người.

Trong 4 năm học SVSQ chỉ được phép ở lại lớp một lần. SVSQ tốt nghiệp, ngoài cấp bậc Thiếu úy hiện dịch, còn được nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa và các trường Đại học Hoa Kỳ công nhận.

BẢN TIN VĂN HÓA VỤ

Advertisements

SÁU (6) ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Là Chiến Sĩ VNCH,

  • Điều 1:Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sựsống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

  • Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

  • Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

  • Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

  • Điều 5:Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánhđập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

  • Điều 6:Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước,đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974) TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

Có thể nói mà không cảm thấy ngượng ngùng về TVBQGVN, một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ toàn tài đúng tiêu chuẩn tân tiến của một quốc gia hùng mạnh. Thực tế là vào thời điểm trước năm 1975, VNCH không những chưa phải là một quốc gia hùng mạnh mà tệ hơn còn là một nước nhược tiểu đang phải gồng mình gần như đơn độc chống trả một cuộc chiến tranh xâm lăng tàn bạo của cả phe cộng sản quốc tế.

Qua phần tường thuật khá chi tiết về chương trình huấn luyện của chính một cựu Sinh Viên Sĩ Quan, bất kỳ người đọc Việt Nam nào cũng phải cảm thấy hãnh diện về ngôi trường quân sự độc đáo, được điều hành tuyệt vời để biến một thanh niên sinh viên bình thường, sau 4 năm luyện tập, thành một sĩ quan xứng đáng để bảo vệ đất nước trong chiến tranh và một cấp lãnh đạo hành chánh hoàn hão trong việc xây dựng quê hương khi hòa bình. Thật đáng tiếc là vận nước đã không cho những sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN có cơ hội đem tài năng ra phục vụ đất nước và dân tộc trong thời bình.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết : (*)(**)

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974),
KHÓA CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG HỮU ĐỨC,
TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

với tất cả những người Việt Nam ưu tư về đất nước với hy vọng một ngày nào đó, TVBQGVN sẽ hồi sinh để sản xuất cho dân tộc những người con yêu với tinh thần phục vụ tài giỏi, tận tụy, và gương mẫu.

Văn Hóa Vụ TVBQGVN

(*) Mời bấm trên link dưới đây để đọc/tải về máy dưới dạng pdf:
https://vanhoavutvbqgvn.files.wordpress.com/2015/01/tie1bb83u_se1bbad_khc3b3a_27_-tvbqgvn.pdf

(**) hoặc bấm trên những hình dưới đây để đọc từng trang :

Continue reading

PHÂN ƯU cùng gia đình Bà Lâm Nhật An

Thưa các Anh Chị,

Chị LỆ MINH – hiền thê của cố Trung Tá Lâm Nhật Anh (khoa trưởng Khoa Điện) và cũng là nguyên Hiệu trưởng trường Bùi Thị Xuân – Đà Lạt đã mất vào ngày 26/06/2019 vừa qua.

Dưới đây là Phân Ưu chúng tôi đã đăng trên báo Người Việt ngầy 30/06/2019.

Vĩnh Đương

PHÂN ƯU cùng gia đình các anh Nguyễn Quốc Lập và Phan Điện

Thưa các Anh Chị,

Trong 2 tháng vừa qua gia đình cựu giáo sư VHV đã có 4 người ra đi:

– Trương Tiếu Oanh (khoa Anh văn) mất tại VN ngày 28/5/2019 (đã đăng Phân Ưu trên website này ngày 11/6/2019)

– Nguyễn Quốc Lập (khoa Khoa học Xã hội) mất tại Maryland (USA) ngày 10/6/2019

– Đinh Quang Tuyên (khoa Nhân văn) mất ngày 21/6/2019.

– Trung tá Phan Điện (trưởng khoa Công Chánh) mất ngày 22/6/2019 tại Nha Trang (VN)

Dưới đây là Phân Ưu với gia đình 2 anh Nguyễn Quốc Lập và Phan Điện mà chúng tôi đã gởi đăng trên báo Người Việt ngày 25/6/2019

Chưa có Phân Ưu với gia đình Đinh Quang Tuyên vì chưa thấy Cáo Phó trên báo. Gia đình chỉ mới gửi riêng cho chúng tôi biết mà thôi, chưa chính thức.

PIERRE (Huy Văn Trương)


PIERRE
(Trích Tập truyện ngắn DINH ĐỘC LẬP TIẾNG SÚNG CUỐI CÙNG)

Chiếc Boeing 747 khổng lồ lướt trên phi đạo mỗi lúc một nhanh, Pierre chợt thấy nhẹ hẫng trong khi toàn thân anh như bị một sức mạnh vô hình ép xuống nệm ghế. Chưa kịp hiểu về trạng thái nghịch lý xảy ra, anh đã lơ lửng trên không. Máy bay rời khỏi phi đạo từ lúc nào.

Hơn năm mươi tuổi, lần đầu tiên đi máy bay, Pierre cảm thấy bần thần, khó chịu trong người. Sợi dây an toàn gài lỏng lẻo nơi bụng chỉ làm tăng thêm nỗi bực dọc tù túng. Hai lỗ tai lùng bùng, nhức buốt, có lẽ cơ thể anh không quen với sự thay đổi cao độ bất ngờ. Continue reading

CHIẾN TRƯỜNG XA LẮC (Huy Văn Trương)


CHIẾN TRƯỜNG XA LẮC

(Trích Tập truyện ngắn DINH ĐỘC LẬP TIẾNG SÚNG CUỐI CÙNG)

Xe bus bắt đầu đổ đèo. Cô bé hướng dẫn viên du lịch trong chiếc áo dài xanh, tóc cắt ngắn ôm gọn lấy gương mặt ngây thơ, trong sáng. Cô nói tiếng Anh khá trôi chảy.

-Quý vị đang đi trên quốc lộ bốn mươi hai và huyện Đắc một thắng cảnh thiên nhiên với nhiều di tích lịch sử của Buôn Ma Thuột. Không bao lâu nữa, chúng ta sẽ tới nhà sàn buôn Tong Yo. Trong chuyến du lịch năm ngày, quý vị sẽ ở trong căn nhà sàn dài ba mươi mét, rộng hơn tám mét được xây dựng đúng theo lối kiến trúc cổ của dân tộc M’ Nông. Ban ngày quý vị có thể cưỡi voi băng rừng, vượt suối thăm các buôn sóc xa xôi, ghé buôn Tua nếm chút rượu cần, tạt qua buôn Yang La ăn con cá lóc nướng lá chuối, hoặc thả thuyền độc mộc trên hồ Đắc ngắm cảnh hoàng hôn.

Chiều đến, thay vì dùng bữa ăn tối thịnh soạn với rượu chát đỏ hay rượu mạnh chúng tôi mời quý vị uống chút rượu cần, ăn thịt bò thui với cơm nếp dẻo nấu trong ống tre tươi, một cách nấu cơm đặc biệt của các dân tộc miền núi và thưởng thức nhạc dân gian của dân tộc M’ Nông. Tiếng chiêng, tiếng khèn, tiếng trống mộc mac đơn điệu bên bếp lửa hồng sẽ làm cho tinh thần quý vị thư giãn phần nào, quên đi cái ồn ào náo nhiệt của đô thị. Một điều khá quan trọng là quý vị có thể nhìn lại bãi chiến trường mà trước đây khoảng một phần tư thế kỷ, quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, trong một trận đánh lịch sử đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 11 (Huy Văn Trương)

Chương XI

Nước mất nhà tan.

Tôi ngủ một giấc ngon lành thoải mái cho đến sáng ngày hôm sau.

Hôm nay, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi dự định lát nữa sẽ xuống chợ Bến Thành, bán cái đồng hồ đeo tay, sau đó đến bến xe về Đà Lạt, về với cha mẹ và mấy đứa em của tôi.

Từ lúc thức dậy, tôi đã thấy mót tiểu nhưng làm biếng không muốn đi đến nhà tắm. Tôi biết, chỉ có một mình tôi ở trong nhà, đi đâu cho xa. Tôi đứng trên giường đái đại xuống sàn nhà cho xong việc, tiếng nước tiểu rơi lên những mớ giấy rác dưới sàn nhà kêu lộp bộp, âm thanh vang dội trong căn nhà vắng, nghe như tiếng của những giọt mưa đầu mùa rơi trên đống lá khô. Sau khi trút xong bầu tâm sự, trong người sảng khoái, nhẹ nhàng, tôi đi xuống nhà bếp, mở vòi nước dùng cả hai tay bụm lấy một vốc nước úp vô mặt, miệng ngậm một búng nước, ngửa cổ súc miệng sau đó phun nước xuống chậu rửa chén. Chuyện vệ sinh buối sáng coi như xong.

Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 10 (Huy Văn Trương)

Chương X

Trong cơn hấp hối.

Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau đó co cụm lại, rút lui về Trường Bộ BinhThủ Đức cũ.

Mười giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở tại tuyến phòng thủ của Trường Bộ Binh Thủ Đức với chiếc ống dòm nhà binh, quan sát một chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng vừa bị một trái đạn chống chiến xa M72 bắn đứt xích. Chiếc tăng nằm ì một chỗ, tuy không chạy được nữa nhưng cây súng đại liên trên chiếc tăng vẫn còn hoạt động, nó liên tục khạc đạn như mưa. Cùng lúc đó, nhiều loạt đạn M16 do sinh viên sĩ quan bắn vào chiếc xe tăng, đem súng M16 mà bắn xe tăng đúng là chuyện bù mắt cắn sừng trâu. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 9 (Huy Văn Trương)

Chương IX

Đào thoát.

Khóa 28 và 29 của Trường Võ Bị Đà Lạt vừa làm lễ mãn khóa được vài ngày, trong trường chỉ còn lại hai khóa 30 và 31. Nhàn cư vi bất thiện, tôi và Trung úy Trí rảnh rỗi ngồi uống cà phê ở Long Thành với mấy người bạn cùng khóa. Khóa của tôi có khoảng một trung đội đi du học Fort Benning ở Georgia Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp hầu như tất cả được đưa về làm huấn luyện viên tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tụi tôi gặp lại nhau, thôi thì không biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa được đem ra nhắc lại. Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình khi nghe loa phát thanh gọi tên mình.

-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đến Khu tiếp tân có thân nhân cần gặp.

Cả Sài Gòn này, tôi chỉ quen có hai người con gái là Cúc và Dung. Cúc là vợ chưa cưới của tôi, đã đi Mỹ với bác Bảy từ mấy tuần lễ trước rồi, không lẽ người tìm tôi lại là Dung.

Tôi nói với Trung úy Trí và mấy người bạn cùng khóa, hiện đang là huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 8 (Huy Văn Trương)

Chương VIII

Vĩnh biệt đồi 1515.

Hôm nay ngày 10 tháng 3 năm 1975, một ngày như mọi ngày, tôi đang ngồi trong Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt ôn bài vở. Chỉ còn ba tháng nữa là tôi xong cái bằng cử nhân, chuyện học bài khiến tôi bù đầu tóc rối. Mười một giờ, tôi xếp sách vở đứng lên định đi qua Câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm, bất ngờ Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước vào, tôi chưa kịp đứng lên chào kính đã nghe thiếu tướng nói:

-Trung úy gọi Tiểu khu Darlac cho tôi.

Tôi bốc điện thoại quay số, chuông điện thoại mới reo được một tiếng đã có người trả lời với giọng hốt hoảng.

-Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nghe.

Tôi nghiêm giọng.

-Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, muốn nói chuyện với Đại tá Tỉnh trưởng. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 7 (Huy Văn Trương)

Chương VII

Không rủ cũng tới.

Chiến tranh xảy ra ở Việt Nam nhưng khi nói chuyện hòa đàm lại kéo nhau qua Paris. Lúc hiệp định ngưng chiến được ký kết, cũng là lúc Mỹ bắt đầu giảm quân viện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lý do rất là rõ ràng: hết đánh nhau rồi, vũ khí đạn dược hư hao, thất thoát, một đổi một. Tôi không biết những đơn vị tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị ảnh hưởng như thế nào, nhưng riêng Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt khó khăn thấy rõ, khi thiếu tá trưởng phòng nói với tôi:

-Kể từ tuần tới, chuyện đi họp an ninh, lấy mật khẩu bên Quân Trấn, trung úy dùng xe hai bánh của mình mà đi.

Tôi hỏi ông:

-Thưa thiếu tá, xe jeep của Phòng hành quân bị hư hay sao?

-Xe vẫn còn tốt nhưng cấp số xăng cho xe bị cắt giảm, chỉ còn lại một phần tư so với trước đây. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 6 (Huy Văn Trương)

Chương VI

Cũng toan, tính toán với tình

Tôi đang chăm chú ôn bài cho kỳ thi sắp tới, nên không biết Thiếu tá Hưng trưởng Phòng hành quân bước vào.

-Trung úy làm gì đó?

Khi nghe tiếng nói của ông, tôi mới giật mình.

-Thưa thiếu tá, tôi đang học bài.

Thiếu tá Hưng kéo ghế ngồi đổi diện với tôi, rồi nói:

-Gốc của trung úy cũng bự dữ.

Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 5 (Huy Văn Trương)

Chương V

Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Ngày thứ nhất: Đời sống quân ngũ, “An Lộc trong bão lửa”.

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, tắm rửa.

Sáu giờ rưỡi, hôm nay thứ Hai đầu tuần, tôi mặc bộ đồ làm việc mùa đông để đi làm, bộ đồ này giống như bộ tiểu lễ mùa đông chỉ khác là không mang dây biểu chương, khi mùa nóng đến, trường sẽ có thông báo thay quân phục mùa hè. Tôi đang ở cư xá sĩ quan độc thân Thủy Tiên II của Trường Võ Bị Đà Lạt. Cư xá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ngay trung tâm thành phố, cách khu phố Hòa Bình chừng mười phút đi bộ.

Bảy giờ kém, tôi đi bộ ra trước rạp ciné Hòa Bình, xe bus của trường đã đậu sẵn ở đó để chở nhân viên dân chính và quân nhân đi làm. Sáng mùa đông, trời Đà Lạt lạnh buốt, tôi thường đi làm bằng xe bus của trường vì trên xe bus đông người, cửa đóng kín cho nên bầu không khí trong xe ấm hơn. Nếu không thích đi xe bus, tôi có thể dùng chiếc xe Honda hai bánh cũ rích, tróc sơn, mòn vỏ của mình để đi làm.

Tám giờ kém mười, xe bus đổ tại tòa nhà Bộ chỉ huy. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 4 (Huy Văn Trương)

Chương IV

Dưới chân đỉnh Lâm Viên.

Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi nhận đơn vị mới, Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi có cái may mắn được ở hai quân trường lớn đào tạo nhiều sĩ quan tài giỏi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi quân trường là một thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, từ hình thức đến nội dung. Trường Võ Bị Đà Lạt lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm khuôn mẫu, trong khi Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo sĩ quan dựa theo mẫu mực của Trường Fort Benning Hoa Kỳ.

Nếu muốn tìm hiểu tỉ mỉ, tường tận về sự khác biệt của hai quân trường này, tôi e rằng mình không đủ kiến thức cũng như khả năng phân tích, tổng hợp rồi đưa đến kết luận chính xác đầy đủ. Tôi chỉ muốn nói đến một vài khía cạnh dị biệt nho nhỏ có liên quan đến mình.

Với Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian đào tạo sĩ quan tùy theo tình hình chiến sự ở bên ngoài sôi động hay lắng dịu. Vào những năm cuối thập niên sáu mươi vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, thời gian thụ huấn của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bị rút ngắn lại, chỉ còn hai tháng học làm lính ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn tháng học cách chỉ huy một trung đội ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tổng cộng thời gian ở quân trường chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. So với bốn năm huấn luyện của Trường Võ Bị Đà Lạt, thời gian ở quân trường của chúng tôi chỉ bằng một phần tám thời gian của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Hậu quả của việc đốt giai đoạn, tháng 3 năm 1969, khóa của tôi có khoảng hai ngàn sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, ba năm rưỡi sau, nghị định thăng cấp trung úy chỉ còn lại khoảng một ngàn rưỡi, năm trăm chuẩn úy và thiếu úy đã đền nợ nước. Continue reading