Giới Thiệu Văn Hoá Vụ

Văn Hóa Vụ là một trong 3 khối của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tiếp nối Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt được Quân Đội Quốc Gia khai sinh ngày 2-12-1950. Hai khối kia là Quân Sự Vụ và Tham Mưu.

TVBQGVN được Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ký nghị định thành lập vào tháng 7 năm 1959, với nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ song toàn để trở thành những nhà lãnh đạo quân sự và hành chánh cho cả thời chiến lẫn thời bình. Một chương trình huấn luyện 4 năm được áp dụng bao gồm hai phương diện quân sự và văn hóa, với trình độ văn hóa tương đương với các trường đại học quốc gia tại Sài gòn, Huế, Đà Lạt.

Vì phải đáp ứng với cuộc chiến tranh chống Cộng đang trở nên khốc liệt nên kể từ tháng 8 năm 1962, TVBQGVN tạm rút ngắn chương trình huấn luyện 4 năm còn 2 năm. Sau khi quân đội đã chiến đấu vững vàng, vào ngày 13 tháng 12 năm 1966, Thủ Tướng Chính Phủ ký nghị định tái áp dụng chương trình 4 năm bắt đầu với khóa 22. Từ đó các tân Sĩ quan tốt nghiệp TVBQGVN đều có trình độ học vấn được Bộ Giáo dục Quốc gia chính thức công nhận ngang hàng với bất cứ trường đại học 4 năm công lập nào của Việt Nam.

Chương trình văn hóa 4 năm tại TVBQGVN bao gồm các môn về cả 3 lãnh vực: khoa học thuần túy, khoa học ứng dụng, và nhân văn xã hội. Sinh viên Sĩ quan (SVSQ) phải theo một thời lượng học hành vất vả hơn các sinh viên dân sự, không những để trau dồi kiến thức mà còn được thực tập để suy luận, phân tích, quyết định nhằm phát triển khả năng lãnh đạo và đáp ứng với mọi tình huống trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết quốc gia. Và để giúp họ thấm nhuần văn hóa dân tộc cũng như theo kịp với đà tiến hóa của thế giới, một chương trình các môn nhân văn xã hội và Anh ngữ thực dụng được áp dụng suốt cả 4 năm học.

Về tổ chức, Văn Hóa Vụ có một Phòng Điều Hành phụ trách hành chánh, và 9 khoa, gồm:

– Khoa Anh Văn
– Khoa Nhân Văn

– Khoa Khoa Học Xã Hội
– Khoa Toán

– Khoa Khoa Học
– Khoa Cơ Khí

– Khoa Công Chánh
– Khoa Kỹ Thuật Điện

– Khoa Kỹ Thuật Quân Sự

CÁC MÔN HỌC

TOÁN
(6 môn
)
KHOA HỌC
(5 môn)
ANH VĂN
(5 môn)

* Giải tích 1A
* Giải tích 1B
* Giải tích 2A
* Giải tích 2B
* Giải tích 3
* Thống kê

* Vật lý 1
* Vật lý 2
* Tân vật lý
* Hóa học vô cơ
* Hóa học hữu cơ

* Anh ngữ 1
* Anh ngữ 2
* Anh ngữ 3
* Anh ngữ 4
* Anh ngữ quân sự

NHÂN VĂN
(5 môn)
KHOA HỌC XÃ HỘI
(8 môn)
KỸ THUẬT ĐIỆN
(5 môn)

* Văn chương VN 1
* Văn chương VN 2
* Sử Âu Mỹ
* Sử Á Việt
* Quân sử

* Tư tưởng chính trị
* Tâm lý
* Lãnh đạo
* Chính thể hiện đại
* Luật
*
Hành chánh công quyền
*Quản trị
* Kinh tế 

* Mạch điện
* Điện tử
* Hệ thống phân tích
* Điện khí 1
* Điện khí 2

CƠ KHÍ
(6 môn)
CÔNG CHÁNH
(6 môn)
KỸ THUẬT QUÂN SỰ
(5 môn)

* Cố thể 1
* Cố thể 2
* Cố thể 3
* Lưu chất 1
* Lưu chất 2
* Máy đây

* Trắc lượng 1
* Trắc lượng 2
* Kiến tạo 1
* Kiến tạo 2
* Thanh hóa
* Xa lộ phi trường

* Quân cụ
* Canh nông
* Khí tượng
* Hàng hải
* Kiến trúc chiến hạm

Tổng cộng gồm 48 môn với khoảng 2970 giờ, không kể giờ thực tập phụ trội.

Mỗi năm học được chia làm hai mùa: Mùa Văn hóa từ tháng 3 cho đến giữa tháng 12, và Mùa Quân sự từ giữa tháng 12 đến tháng 3.

Mùa Văn hóa gồm hai lục cá nguyệt, với mỗi lục cá nguyệt có 3 giai đoạn, mỗi gìai đoạn 6 tuần lễ. Cuối mỗi tuần, giai đoạn, lục cá nguyệt và mùa Văn hóa đều có các kỳ sát hạch ôn. Mỗi lớp học Văn hóa chỉ gồm 16 SVSQ, và 4 toán SVSQ được sắp xếp cùng học một đề tài trong cùng một giờ do 4 giảng viên đảm trách.

Giáo sư đoàn gồm 160 giảng viên, hầu hết là Sĩ Quan Quân đội, cấp bậc từ Chuẩn uý đến Trung tá, tốt nghiệp từ các trường Đại học trong nước hoăc ngoai quốc, cộng với một số nhỏ giáo sư dân chính có bằng Cử nhân, Cao học hay Kỷ sư. Trong số các giảng viên, có khoảng 30% tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ hay các nước khác với bằng MA hay MS.

Cuối mỗi năm học, Hội Đồng Văn Hóa, gồm Văn Hóa Vụ Trưởng, các Trưởng khoa, và Quân Sự Vụ Trưởng, nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN, để duyệt xét kết quả học tập của các SVSQ và quyết định cho lên lớp hay ở lại lớp của từng người.

Trong 4 năm học SVSQ chỉ được phép ở lại lớp một lần. SVSQ tốt nghiệp, ngoài cấp bậc Thiếu úy hiện dịch, còn được nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa và các trường Đại học Hoa Kỳ công nhận.

BẢN TIN VĂN HÓA VỤ

Advertisements

SÁU (6) ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Là Chiến Sĩ VNCH,

  • Điều 1:Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sựsống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

  • Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

  • Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

  • Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

  • Điều 5:Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánhđập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

  • Điều 6:Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước,đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974) TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

Có thể nói mà không cảm thấy ngượng ngùng về TVBQGVN, một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ toàn tài đúng tiêu chuẩn tân tiến của một quốc gia hùng mạnh. Thực tế là vào thời điểm trước năm 1975, VNCH không những chưa phải là một quốc gia hùng mạnh mà tệ hơn còn là một nước nhược tiểu đang phải gồng mình gần như đơn độc chống trả một cuộc chiến tranh xâm lăng tàn bạo của cả phe cộng sản quốc tế.

Qua phần tường thuật khá chi tiết về chương trình huấn luyện của chính một cựu Sinh Viên Sĩ Quan, bất kỳ người đọc Việt Nam nào cũng phải cảm thấy hãnh diện về ngôi trường quân sự độc đáo, được điều hành tuyệt vời để biến một thanh niên sinh viên bình thường, sau 4 năm luyện tập, thành một sĩ quan xứng đáng để bảo vệ đất nước trong chiến tranh và một cấp lãnh đạo hành chánh hoàn hão trong việc xây dựng quê hương khi hòa bình. Thật đáng tiếc là vận nước đã không cho những sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN có cơ hội đem tài năng ra phục vụ đất nước và dân tộc trong thời bình.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết : (*)(**)

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974),
KHÓA CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG HỮU ĐỨC,
TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

với tất cả những người Việt Nam ưu tư về đất nước với hy vọng một ngày nào đó, TVBQGVN sẽ hồi sinh để sản xuất cho dân tộc những người con yêu với tinh thần phục vụ tài giỏi, tận tụy, và gương mẫu.

Văn Hóa Vụ TVBQGVN

(*) Mời bấm trên link dưới đây để đọc/tải về máy dưới dạng pdf:
https://vanhoavutvbqgvn.files.wordpress.com/2015/01/tie1bb83u_se1bbad_khc3b3a_27_-tvbqgvn.pdf

(**) hoặc bấm trên những hình dưới đây để đọc từng trang :

Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 11 (Huy Văn Trương)

Chương XI

Nước mất nhà tan.

Tôi ngủ một giấc ngon lành thoải mái cho đến sáng ngày hôm sau.

Hôm nay, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi dự định lát nữa sẽ xuống chợ Bến Thành, bán cái đồng hồ đeo tay, sau đó đến bến xe về Đà Lạt, về với cha mẹ và mấy đứa em của tôi.

Từ lúc thức dậy, tôi đã thấy mót tiểu nhưng làm biếng không muốn đi đến nhà tắm. Tôi biết, chỉ có một mình tôi ở trong nhà, đi đâu cho xa. Tôi đứng trên giường đái đại xuống sàn nhà cho xong việc, tiếng nước tiểu rơi lên những mớ giấy rác dưới sàn nhà kêu lộp bộp, âm thanh vang dội trong căn nhà vắng, nghe như tiếng của những giọt mưa đầu mùa rơi trên đống lá khô. Sau khi trút xong bầu tâm sự, trong người sảng khoái, nhẹ nhàng, tôi đi xuống nhà bếp, mở vòi nước dùng cả hai tay bụm lấy một vốc nước úp vô mặt, miệng ngậm một búng nước, ngửa cổ súc miệng sau đó phun nước xuống chậu rửa chén. Chuyện vệ sinh buối sáng coi như xong.

Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 10 (Huy Văn Trương)

Chương X

Trong cơn hấp hối.

Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau đó co cụm lại, rút lui về Trường Bộ BinhThủ Đức cũ.

Mười giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở tại tuyến phòng thủ của Trường Bộ Binh Thủ Đức với chiếc ống dòm nhà binh, quan sát một chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng vừa bị một trái đạn chống chiến xa M72 bắn đứt xích. Chiếc tăng nằm ì một chỗ, tuy không chạy được nữa nhưng cây súng đại liên trên chiếc tăng vẫn còn hoạt động, nó liên tục khạc đạn như mưa. Cùng lúc đó, nhiều loạt đạn M16 do sinh viên sĩ quan bắn vào chiếc xe tăng, đem súng M16 mà bắn xe tăng đúng là chuyện bù mắt cắn sừng trâu. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 9 (Huy Văn Trương)

Chương IX

Đào thoát.

Khóa 28 và 29 của Trường Võ Bị Đà Lạt vừa làm lễ mãn khóa được vài ngày, trong trường chỉ còn lại hai khóa 30 và 31. Nhàn cư vi bất thiện, tôi và Trung úy Trí rảnh rỗi ngồi uống cà phê ở Long Thành với mấy người bạn cùng khóa. Khóa của tôi có khoảng một trung đội đi du học Fort Benning ở Georgia Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp hầu như tất cả được đưa về làm huấn luyện viên tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tụi tôi gặp lại nhau, thôi thì không biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa được đem ra nhắc lại. Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình khi nghe loa phát thanh gọi tên mình.

-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đến Khu tiếp tân có thân nhân cần gặp.

Cả Sài Gòn này, tôi chỉ quen có hai người con gái là Cúc và Dung. Cúc là vợ chưa cưới của tôi, đã đi Mỹ với bác Bảy từ mấy tuần lễ trước rồi, không lẽ người tìm tôi lại là Dung.

Tôi nói với Trung úy Trí và mấy người bạn cùng khóa, hiện đang là huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 8 (Huy Văn Trương)

Chương VIII

Vĩnh biệt đồi 1515.

Hôm nay ngày 10 tháng 3 năm 1975, một ngày như mọi ngày, tôi đang ngồi trong Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt ôn bài vở. Chỉ còn ba tháng nữa là tôi xong cái bằng cử nhân, chuyện học bài khiến tôi bù đầu tóc rối. Mười một giờ, tôi xếp sách vở đứng lên định đi qua Câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm, bất ngờ Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước vào, tôi chưa kịp đứng lên chào kính đã nghe thiếu tướng nói:

-Trung úy gọi Tiểu khu Darlac cho tôi.

Tôi bốc điện thoại quay số, chuông điện thoại mới reo được một tiếng đã có người trả lời với giọng hốt hoảng.

-Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nghe.

Tôi nghiêm giọng.

-Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, muốn nói chuyện với Đại tá Tỉnh trưởng. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 7 (Huy Văn Trương)

Chương VII

Không rủ cũng tới.

Chiến tranh xảy ra ở Việt Nam nhưng khi nói chuyện hòa đàm lại kéo nhau qua Paris. Lúc hiệp định ngưng chiến được ký kết, cũng là lúc Mỹ bắt đầu giảm quân viện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lý do rất là rõ ràng: hết đánh nhau rồi, vũ khí đạn dược hư hao, thất thoát, một đổi một. Tôi không biết những đơn vị tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị ảnh hưởng như thế nào, nhưng riêng Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt khó khăn thấy rõ, khi thiếu tá trưởng phòng nói với tôi:

-Kể từ tuần tới, chuyện đi họp an ninh, lấy mật khẩu bên Quân Trấn, trung úy dùng xe hai bánh của mình mà đi.

Tôi hỏi ông:

-Thưa thiếu tá, xe jeep của Phòng hành quân bị hư hay sao?

-Xe vẫn còn tốt nhưng cấp số xăng cho xe bị cắt giảm, chỉ còn lại một phần tư so với trước đây. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 6 (Huy Văn Trương)

Chương VI

Cũng toan, tính toán với tình

Tôi đang chăm chú ôn bài cho kỳ thi sắp tới, nên không biết Thiếu tá Hưng trưởng Phòng hành quân bước vào.

-Trung úy làm gì đó?

Khi nghe tiếng nói của ông, tôi mới giật mình.

-Thưa thiếu tá, tôi đang học bài.

Thiếu tá Hưng kéo ghế ngồi đổi diện với tôi, rồi nói:

-Gốc của trung úy cũng bự dữ.

Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 5 (Huy Văn Trương)

Chương V

Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Ngày thứ nhất: Đời sống quân ngũ, “An Lộc trong bão lửa”.

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, tắm rửa.

Sáu giờ rưỡi, hôm nay thứ Hai đầu tuần, tôi mặc bộ đồ làm việc mùa đông để đi làm, bộ đồ này giống như bộ tiểu lễ mùa đông chỉ khác là không mang dây biểu chương, khi mùa nóng đến, trường sẽ có thông báo thay quân phục mùa hè. Tôi đang ở cư xá sĩ quan độc thân Thủy Tiên II của Trường Võ Bị Đà Lạt. Cư xá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ngay trung tâm thành phố, cách khu phố Hòa Bình chừng mười phút đi bộ.

Bảy giờ kém, tôi đi bộ ra trước rạp ciné Hòa Bình, xe bus của trường đã đậu sẵn ở đó để chở nhân viên dân chính và quân nhân đi làm. Sáng mùa đông, trời Đà Lạt lạnh buốt, tôi thường đi làm bằng xe bus của trường vì trên xe bus đông người, cửa đóng kín cho nên bầu không khí trong xe ấm hơn. Nếu không thích đi xe bus, tôi có thể dùng chiếc xe Honda hai bánh cũ rích, tróc sơn, mòn vỏ của mình để đi làm.

Tám giờ kém mười, xe bus đổ tại tòa nhà Bộ chỉ huy. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 4 (Huy Văn Trương)

Chương IV

Dưới chân đỉnh Lâm Viên.

Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi nhận đơn vị mới, Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi có cái may mắn được ở hai quân trường lớn đào tạo nhiều sĩ quan tài giỏi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi quân trường là một thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, từ hình thức đến nội dung. Trường Võ Bị Đà Lạt lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm khuôn mẫu, trong khi Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo sĩ quan dựa theo mẫu mực của Trường Fort Benning Hoa Kỳ.

Nếu muốn tìm hiểu tỉ mỉ, tường tận về sự khác biệt của hai quân trường này, tôi e rằng mình không đủ kiến thức cũng như khả năng phân tích, tổng hợp rồi đưa đến kết luận chính xác đầy đủ. Tôi chỉ muốn nói đến một vài khía cạnh dị biệt nho nhỏ có liên quan đến mình.

Với Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian đào tạo sĩ quan tùy theo tình hình chiến sự ở bên ngoài sôi động hay lắng dịu. Vào những năm cuối thập niên sáu mươi vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, thời gian thụ huấn của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bị rút ngắn lại, chỉ còn hai tháng học làm lính ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn tháng học cách chỉ huy một trung đội ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tổng cộng thời gian ở quân trường chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. So với bốn năm huấn luyện của Trường Võ Bị Đà Lạt, thời gian ở quân trường của chúng tôi chỉ bằng một phần tám thời gian của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Hậu quả của việc đốt giai đoạn, tháng 3 năm 1969, khóa của tôi có khoảng hai ngàn sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, ba năm rưỡi sau, nghị định thăng cấp trung úy chỉ còn lại khoảng một ngàn rưỡi, năm trăm chuẩn úy và thiếu úy đã đền nợ nước. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 3 (Huy Văn Trương)

Chương III

Bóng tình yêu.

Chiếc xe taxi hiệu Renault nhỏ xíu, sơn hai màu xanh trắng, thả chúng tôi xuống cạnh nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng ở đường Nguyễn Minh Chiếu. Biên đi trước dẫn đường, đi được một đoạn ngắn, hẳn chỉ vào một căn nhà khang trang, bề thế với hai cây vú sữa già mà cái tàn của nó giống như hai cây dù khổng lồ, che kín cả một góc sân.

-Nhà tao đó.

Tôi chẳng cần nghe nó nói gì cả, nó dẫn đâu tôi theo đó, đầu óc tôi mãi nghĩ đến Dung cô em gái nó. Không biết lát nữa gặp Dung tôi sẽ nói gì, làm gì. Điều quan trọng nhất mà tôi thắc mắc là không biết Dung cao hay thấp, đẹp hay xấu, chỉ có vậy thôi.

Biên đưa tay bấm chuông. Một người đàn bà tuổi chừng bốn mươi ra mở cổng, khi thấy Biên bà reo lên:

-Cậu Hai mới về. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 2 (Huy Văn Trương)

Chương II

Trên đồi Tăng Nhơn Phú.

Mười chín tuổi, tôi quyết định đăng lính. Mặc dầu có băng Tú tài II, đủ điều kiện để thi vào Hải Quân hoặc Võ Bị Đà Lạt, nhưng tôi không chọn hai nơi này bởi vì tôi nghe bạn bè kháo nhau rằng, chương trình học toán của sĩ quan Hải Quân tương đương với toán của Đại học Khoa học. Chẳng hạn môn Thiên văn học hay cái môn học gì đó, giữa trùng dương bao la bát ngát, nhìn sao trên trời rồi dùng toán học để tìm ra điểm đứng của con tàu, đối với tôi đây quả là chuyện không tưởng. Thi vô Trường Võ Bị Đà Lạt còn mệt hơn nữa, bốn năm trong trường, ngoài chuyện học về quân sự phải học thêm về văn hóa, mà phần văn hóa xem ra còn nặng hơn quân sự, sau bốn năm khi ra trường phải lấy cho được cái bằng Cử Nhân Khoa Học ứng Dụng. Đã là lính rồi mà còn phải học thêm về văn hóa quả là phiền phức quá sức, tôi đã ngu lại còn lười biếng, khó khăn là tôi né. Tôi chọn sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Chương 1 (Huy Văn Trương)

Chương I

Giã từ sách vở.

Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẫm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu, cũng hai mùa mưa nắng nhưng mưa và nắng, là mưa nắng của miền ôn đới. Tôi có thể nói mà không sợ mình nói quá lời “sương mù, với rừng thông là biểu tượng của thành phố nơi tôi sống. Và đó là thành phố ôn đới trong một nước nhiệt đới”.

Thành phố Đà Lạt được hình thành nhờ dân tứ xứ đến đây lập nghiệp. Ba tôi không nằm ngoài thành phần đó, ông từ Quảng Nam, di dân đến đây vào giữa thập niên bốn mươi, thập niên mà người Pháp đang muốn mở rộng thành phố Đà Lạt thành trung tâm nghỉ mát của người Pháp ở Đông Dương. Hơn một ngàn căn biệt thự to lớn nguy nga, bề thế, kiến trúc theo kiểu Pháp được xây dựng trong giai đoạn này. Continue reading

CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU – Thay lời tựa (Huy Văn Trương)

(BBT đánh máy lại từ sách do tác giả Huy Văn Trương tặng)


MỤC LỤC

Thay lời tựa

Chương I : Giã từ sách vở

Chương II: Trên đồi Tăng Nhơn Phú

Chương III: Bóng tình yêu

Chương IV: Dưới chân đỉnh Lâm Viên

Chương V: Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Chương VI: Cũng toan, tính toán với tình

Chương VII: Không rủ cũng tới

Chương VIII: Vĩnh biệt đồi 1515

Chương IX: Đào thoát

Chương X: Trong cơn hấp hối

Chương XI: Nước mất nhà tan

o O o Continue reading

Đọc Truyện. “CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU” (Tràm Cà Mau)

Đọc Truyện.
“CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU”

(BBT đánh máy lại từ sách do tác giả Huy Văn Trương tặng)

Tôi nghĩ e phải mất một tuần mới đọc hết tập truyện dài nầy của Huy Văn, nhưng không ngờ, tôi đã đọc một mạch từ đầu hôm đến khuya cho hết câu chuyện. Nhờ lối hành văn trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu và vui tươi, nên lôi cuốn được người đọc, không làm chán nản bỏ cuộc nửa chừng. Điều thích thú nhất, là tôi tìm được nhiều hình ảnh và tình cảm của chính mình vào một thời xa xưa, trước năm 1975, khi tóc còn xanh, dạt dào yêu đời, dù chiến tranh tàn khốc, khói lửa triền miên.

Tác giả như chứng nhân của một giai đoạn lịch sử, phác họa lại hình ảnh và tâm tư của lớp thanh niên trong thời đại đó. Continue reading

DINH ĐỘC LẬP Tiếng Súng Cuối Cùng (Huy Văn Trương)

BBT đánh máy lại từ
Tập truyện DINH ĐỘC LẬP TIẾNG SÚNG CUỐI CÙNG
với sự đồng ý của tác giả Huy Văn Trương
(bút hiệu của trung úyTrương Văn Hùng, phòng hành quân bộ chỉ huy trường VBQGVN) .
Xin chân thành cám ơn tác giả.

Ba cái ly thủy tinh trong suốt lung lửng rượu vang, chạm nhau kêu lách cách, chúc mừng, chúc mừng ngày bọn mình tái ngộ, tôi nhìn qua khung cửa sổ cảnh ba người đàn ông ngồi bệt dưới đất, bao quanh chai rượu và đĩa mồi, hình ảnh quá quen thuộc. Tôi đoán ngay, ngày xưa họ là lính trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Như để xác nhận sự suy đoán của tôi là đúng, người trẻ tuổi nhất trong bọn cất giọng :

-Hai ông có công nhận không? Sư đoàn 18 của bọn mình, lấy một chọi mười, đã đánh một trận oanh oanh liệt liệt. Tôi cho đó là trận đánh cuối cùng, trận đánh để đời của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Continue reading

Họp mặt Tất Niên 26-1-2019 của Gđ Văn Hoá Vụ

 Như thường lệ, cứ đến cuối năm thì gia đình Văn Hóa Vụ hải ngoại cũng như trong nước đều có cuộc họp mặt tất niên để trò chuyện và cũng để điểm danh ai còn ai mất…

Hằng năm gia đình VHV hải ngoại đều được tổ chức tại tư gia anh chị Đỗ Ngọc Hiển dưới hình thức potluck. Mỗi người còn đem một gói quà để bốc thăm trao đổi với nhau cho vui…nhưng năm nay trường hợp ngoại lệ buổi họp mặt lại được tổ chức tại một nhà hàng vi gần ngày họp, nhà anh chị Hiển nửa đêm bị vài ba tên côn đồ đập vở kính 5 của sổ phía trước nhà và một kính trước của chiếc xe hơi , hơn nữa chị Hiển lại phải đi mổ ruột thừa và cắt nối một đoạn ruột già bị viêm…

Nhà hàng Hương Vỹ dành cho chúng tôi một nửa căn phòng phía trong riêng biệt. Ban đầu ước tính khoảng 25 người tối đa nhưng không ngờ đã có đến 40 người tham dự..Có những anh chị từ các tiểu bang xa đến như anh chị Huỳnh Long Phước từ Arizona, anh Đào Hữu Hạnh từ Oregon, anh Vũ Ngô Cường từ Sacramento, anh Nguyễn Kim Trọng từ Stockton, chị Trác hơn 2 giờ lái xe từ Simi Valley…Anh Huỳnh Thu Tâm ở Nursing home vừa ra, người chưa được khỏe cũng cố gắng cùng chị lái xe từ Riverside đến chung vui với anh chị em. Ngoài ra còn có anh Nguyễn Phước Aí Đỉnh ( SVSQ khóa 26 ) Hội trưởng hội VB Nam Cali, anh Tom Võ ( SVSQ khóa 24 ) một nhà địa ốc nỗi tiếng ở Orange County và 3 nữ sinh viên khóa 6 trường Chính Tri Kinh Doanh viện Đại Học Đà Lạt, học trò của anh Đỗ Ngọc Hiển đến chung vui trong buổi Tất niên này. Anh Tom Võ vì có chuyện riêng nên không ở lại chung vui được, trước khi đi đã góp cho quỷ VHV 100 đô la.

Mở đầu buổi họp mặt anh Nghiêm Xuân Đốc thay mặt anh Tôn Thất Diên phải ở nhà trông coi chị không đến được, chào mừng và chúc Tết anh chị em đã đến tham dự. Vì đã được thông báo trước nên các anh chị tham dự chỉ mang một gói quà để bốc thăm lấy hên, còn thức ăn, nước uống thì các anh chị tự chọn trong menu của nhà hàng. Sau khi ” ngã mũ” số tiền thu được sẽ thanh toán cho nhà hàng còn laị bao nhiêu sẽ cho vào quỷ VHV.

Tiếp theo Vĩnh Đương ( ông già cộng đồng ) nhắn lời chúc mừng của một vài anh chị không đến dự vì không thể lái xe như anh Lâm Văn Do ở San Diego , anh Nguyễn Văn Thời ở Canoga Park…và báo cáo tình hình của gia đình giáo sư VHV… Trong năm vừa qua VHV hải ngoại cũng như quốc nội không có ai bỏ ngũ mà chỉ có một số nằm bệnh xá, bệnh viện…Tổng số giáo sư VHV bỏ ngũ gần 2/3 hơn 140 người . Số còn lại tuổi già sức yếu. Chúng ta sẽ không có “hậu duệ” như SVSQ VB để nối nghiệp…

Buổi họp mặt còn có một thân hữu đặc biệt là anh Trương Văn Hùng, trung úy phòng hành quân bộ chỉ huy của trường VBQGVN. Thay vì anh sẽ kể cho các anh chị nghe tình hình và quyết định di tản của trường Võ Bị và Chiến Tranh Chính Trị của Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, anh đã gửi tặng mỗi người hai tập truyện của anh:  Dinh Độc Lập tiếng súng cuối cùng Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu.  Trong tập truyện thứ hai, chương VIII ( Vĩnh biệt đồi 1515 ) có nhiều điều mà các anh chị dù vẫn còn ở lại với trường cho đến phút chót hay đã rời trường trước đó chưa bao giờ biết được. Xin cám ơn anh Huy !

Đã đến lúc bốc thăm nhận quà. Mục này đã được chị Sở, chị Khoát lo chu đáo. Có 22 món quà nên chỉ có 22 người may mắn nhận được. Anh Nghiêm Xuân Đốc nhận được món quà quí nhất là một chậu lan và anh đã có nhã ý nhờ anh Đỗ Ngọc Hiển trao tặng lại cho chị Hiển đang nằm trong Rehab… Tổng số tiền thu được khi “ngã mũ” là 1265 đô. Sau khi thanh toán cho nhà hàng còn lai 800 cho vào quỷ VHV.

Sau 3 giờ ăn uống trò chuyện tất cả mọi người đã ra ngoài chụp ảnh lưu niệm rồi chúc Tết nhau, hẹn sẽ còn gặp lại trước khi chia tay ra về. Một buổi họp mặt tất niên khá đông, hơn những năm trước đây. ..như lời nhận xét của một thực khách vào ăn ở phía ngoài, ông ta tự giới thiệu ông là Thiếu tá Hải quân khi hỏi vợ một giáo sư VHV :“buổi họp mặt là của tổ chức nào mà thân mật, vui vẻ, dễ thương như vậy ?.” Khi được biết tất niên của gia đình cựu giáo sư VHV trường VBQGVN, ông ta đã thốt lên “Thảo nào…”

Các anh chị có thể xem toàn bộ hình ảnh buổi họp mặt Tất Niên nầy theo link dưới đây do chị Đốc cung cấp:

https://drive.google.com/drive/folders/1kYto1D3qxoee4dHUoj3ARXj1iAvZMmQV