Giới Thiệu Văn Hoá Vụ

Văn Hóa Vụ là một trong 3 khối của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tiếp nối Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt được Quân Đội Quốc Gia khai sinh ngày 2-12-1950. Hai khối kia là Quân Sự Vụ và Tham Mưu.

TVBQGVN được Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ký nghị định thành lập vào tháng 7 năm 1959, với nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ song toàn để trở thành những nhà lãnh đạo quân sự và hành chánh cho cả thời chiến lẫn thời bình. Một chương trình huấn luyện 4 năm được áp dụng bao gồm hai phương diện quân sự và văn hóa, với trình độ văn hóa tương đương với các trường đại học quốc gia tại Sài gòn, Huế, Đà Lạt.

Vì phải đáp ứng với cuộc chiến tranh chống Cộng đang trở nên khốc liệt nên kể từ tháng 8 năm 1962, TVBQGVN tạm rút ngắn chương trình huấn luyện 4 năm còn 2 năm. Sau khi quân đội đã chiến đấu vững vàng, vào ngày 13 tháng 12 năm 1966, Thủ Tướng Chính Phủ ký nghị định tái áp dụng chương trình 4 năm bắt đầu với khóa 22. Từ đó các tân Sĩ quan tốt nghiệp TVBQGVN đều có trình độ học vấn được Bộ Giáo dục Quốc gia chính thức công nhận ngang hàng với bất cứ trường đại học 4 năm công lập nào của Việt Nam.

Chương trình văn hóa 4 năm tại TVBQGVN bao gồm các môn về cả 3 lãnh vực: khoa học thuần túy, khoa học ứng dụng, và nhân văn xã hội. Sinh viên Sĩ quan (SVSQ) phải theo một thời lượng học hành vất vả hơn các sinh viên dân sự, không những để trau dồi kiến thức mà còn được thực tập để suy luận, phân tích, quyết định nhằm phát triển khả năng lãnh đạo và đáp ứng với mọi tình huống trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết quốc gia. Và để giúp họ thấm nhuần văn hóa dân tộc cũng như theo kịp với đà tiến hóa của thế giới, một chương trình các môn nhân văn xã hội và Anh ngữ thực dụng được áp dụng suốt cả 4 năm học.

Về tổ chức, Văn Hóa Vụ có một Phòng Điều Hành phụ trách hành chánh, và 9 khoa, gồm:

– Khoa Anh Văn
– Khoa Nhân Văn

– Khoa Khoa Học Xã Hội
– Khoa Toán

– Khoa Khoa Học
– Khoa Cơ Khí

– Khoa Công Chánh
– Khoa Kỹ Thuật Điện

– Khoa Kỹ Thuật Quân Sự

CÁC MÔN HỌC

TOÁN
(6 môn
)
KHOA HỌC
(5 môn)
ANH VĂN
(5 môn)

* Giải tích 1A
* Giải tích 1B
* Giải tích 2A
* Giải tích 2B
* Giải tích 3
* Thống kê

* Vật lý 1
* Vật lý 2
* Tân vật lý
* Hóa học vô cơ
* Hóa học hữu cơ

* Anh ngữ 1
* Anh ngữ 2
* Anh ngữ 3
* Anh ngữ 4
* Anh ngữ quân sự

NHÂN VĂN
(5 môn)
KHOA HỌC XÃ HỘI
(8 môn)
KỸ THUẬT ĐIỆN
(5 môn)

* Văn chương VN 1
* Văn chương VN 2
* Sử Âu Mỹ
* Sử Á Việt
* Quân sử

* Tư tưởng chính trị
* Tâm lý
* Lãnh đạo
* Chính thể hiện đại
* Luật
*
Hành chánh công quyền
*Quản trị
* Kinh tế 

* Mạch điện
* Điện tử
* Hệ thống phân tích
* Điện khí 1
* Điện khí 2

CƠ KHÍ
(6 môn)
CÔNG CHÁNH
(6 môn)
KỸ THUẬT QUÂN SỰ
(5 môn)

* Cố thể 1
* Cố thể 2
* Cố thể 3
* Lưu chất 1
* Lưu chất 2
* Máy đây

* Trắc lượng 1
* Trắc lượng 2
* Kiến tạo 1
* Kiến tạo 2
* Thanh hóa
* Xa lộ phi trường

* Quân cụ
* Canh nông
* Khí tượng
* Hàng hải
* Kiến trúc chiến hạm

Tổng cộng gồm 48 môn với khoảng 2970 giờ, không kể giờ thực tập phụ trội.

Mỗi năm học được chia làm hai mùa: Mùa Văn hóa từ tháng 3 cho đến giữa tháng 12, và Mùa Quân sự từ giữa tháng 12 đến tháng 3.

Mùa Văn hóa gồm hai lục cá nguyệt, với mỗi lục cá nguyệt có 3 giai đoạn, mỗi gìai đoạn 6 tuần lễ. Cuối mỗi tuần, giai đoạn, lục cá nguyệt và mùa Văn hóa đều có các kỳ sát hạch ôn. Mỗi lớp học Văn hóa chỉ gồm 16 SVSQ, và 4 toán SVSQ được sắp xếp cùng học một đề tài trong cùng một giờ do 4 giảng viên đảm trách.

Giáo sư đoàn gồm 160 giảng viên, hầu hết là Sĩ Quan Quân đội, cấp bậc từ Chuẩn uý đến Trung tá, tốt nghiệp từ các trường Đại học trong nước hoăc ngoai quốc, cộng với một số nhỏ giáo sư dân chính có bằng Cử nhân, Cao học hay Kỷ sư. Trong số các giảng viên, có khoảng 30% tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ hay các nước khác với bằng MA hay MS.

Cuối mỗi năm học, Hội Đồng Văn Hóa, gồm Văn Hóa Vụ Trưởng, các Trưởng khoa, và Quân Sự Vụ Trưởng, nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN, để duyệt xét kết quả học tập của các SVSQ và quyết định cho lên lớp hay ở lại lớp của từng người.

Trong 4 năm học SVSQ chỉ được phép ở lại lớp một lần. SVSQ tốt nghiệp, ngoài cấp bậc Thiếu úy hiện dịch, còn được nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa và các trường Đại học Hoa Kỳ công nhận.

BẢN TIN VĂN HÓA VỤ

SÁU (6) ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Là Chiến Sĩ VNCH,

  • Điều 1:Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sựsống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

  • Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

  • Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

  • Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

  • Điều 5:Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánhđập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

  • Điều 6:Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước,đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974) TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

Có thể nói mà không cảm thấy ngượng ngùng về TVBQGVN, một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch văn võ toàn tài đúng tiêu chuẩn tân tiến của một quốc gia hùng mạnh. Thực tế là vào thời điểm trước năm 1975, VNCH không những chưa phải là một quốc gia hùng mạnh mà tệ hơn còn là một nước nhược tiểu đang phải gồng mình gần như đơn độc chống trả một cuộc chiến tranh xâm lăng tàn bạo của cả phe cộng sản quốc tế.

Qua phần tường thuật khá chi tiết về chương trình huấn luyện của chính một cựu Sinh Viên Sĩ Quan, bất kỳ người đọc Việt Nam nào cũng phải cảm thấy hãnh diện về ngôi trường quân sự độc đáo, được điều hành tuyệt vời để biến một thanh niên sinh viên bình thường, sau 4 năm luyện tập, thành một sĩ quan xứng đáng để bảo vệ đất nước trong chiến tranh và một cấp lãnh đạo hành chánh hoàn hão trong việc xây dựng quê hương khi hòa bình. Thật đáng tiếc là vận nước đã không cho những sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN có cơ hội đem tài năng ra phục vụ đất nước và dân tộc trong thời bình.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết : (*)(**)

TIỂU SỬ KHÓA 27 (1970 – 1974),
KHÓA CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG HỮU ĐỨC,
TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

với tất cả những người Việt Nam ưu tư về đất nước với hy vọng một ngày nào đó, TVBQGVN sẽ hồi sinh để sản xuất cho dân tộc những người con yêu với tinh thần phục vụ tài giỏi, tận tụy, và gương mẫu.

Văn Hóa Vụ TVBQGVN

(*) Mời bấm trên link dưới đây để đọc/tải về máy dưới dạng pdf:
https://vanhoavutvbqgvn.files.wordpress.com/2015/01/tie1bb83u_se1bbad_khc3b3a_27_-tvbqgvn.pdf

(**) hoặc bấm trên những hình dưới đây để đọc từng trang :

Continue reading

Giới thiệu bản dịch Anh – Pháp ngữ bài “Bỏ Trường Mà Đi” của Chế Lan Viên (Trúc Huy dịch)

Thân gởi anh Vĩnh Đương,

Xin hân hạnh gởi anh Vĩnh Đương và trang web Văn Hoá Vụ hai bản dịch Anh ngữ và Pháp ngữ bài “Bỏ Trường Mà Đi” của Chế Lan Viên, có lồng nhạc guitar bài “Hạ Trắng” của Trịnh Công Sơn :

SCHOOL OF MY HEART,
TOMORROW I  WILL BE SEPARATED FROM YOU !

http://www.saigonline.com/truc_huy/btmd_e_th.htm

ÉCOLE DE MON COEUR
DEMAIN JE SERAI SÉPARÉ DE TOI !

http://www.saigonline.com/truc_huy/btmd_fr_th.htm

Tham Nguyen

Trang Truc Huy :
http://www.art2all.net/tho/truchuy/trang_truchuy.html

Giới thiệu bản dịch Anh-Pháp bài “Bát Nhã Tâm Kinh” của Trúc Huy

Vì tài liệu này đăng trên website của dịch giả Trúc Huy có nghe được tiếng chuông chùa ngân nga mà trên trang blog VHV này không thể nghe được, nên chúng tôi xin mời quý Anh Chị bấm vào link dưới đây để vào nghe và đọc trực tiếp thì thú vị hơn:

http://www.saigonline.com/truc_huy/truchuy_tamkinh_fra0076.htm

BBT/trang nhà VHV

 

MY FAVORITE QUOTES ON HAPPINESS AND INNER PEACE (compiled by TRÚC HUY)

Xin giới thiệu với quý Anh Chị và quý độc giả của trang nhà Văn Hoá Vụ, 3 phần của tài liệu MY FAVORITE QUOTES ON HAPPINESS AND INNER PEACE do anh Trúc Huy biên soạn:

* My Favorite Quotes on Happiness and Inner Peace – Part 1 / 3
* My Favorite Quotes on Happiness and Inner Peace – Part 2 / 3
* My Favorite Quotes on Happiness and Inner Peace – Part 3 / 3

Quý vị bấm vào link trên đây để vào xem tại website của anh Trúc Huy.

Trân trọng,

BBT/https://vanhoavutvbqgvn.wordpress.com/

Video: Chương Trình Võ Bị Hoa Thịnh Đốn Tháng 5 năm 2021 (VATV)

Video dưới đây trình bày về tinh thần bất khuất của Cố Trung Úy NGUYỄN NGỌC TRỤ, cựu giáo sư Văn Hoá Vụ/TVBQGN trước sự dã man, hung ác của bọn cai ngục tại trại tù T1 (Trảng Lớn – Tây Ninh) nơi Ông đã bị giam giữ sau 1975.

Xin mời đọc thêm bài viết về Anh hùng Nguyễn Ngọc Trụ tại đây

 

Giới thiệu Tập Truyện Ngắn VẪN CÒN HY VỌNG mới in của Nhà Văn Tràm Cà Mau

Thưa các anh chị,

Xin Giới Thiệu với các anh chị Tập Truyện Ngắn mới in của Nhà Văn Tràm Cà Mau, tác giả của 5 tập truyện ngắn xuất bản trước đây, được nhiều độc giả khen ngợi.

Riêng cá nhân tôi rất thích thú khi đã được đọc tất cả những truyện ngắn này.

Thân kính,
Nguyễn Thúc Minh

Continue reading

TRÔI THEO DÒNG PHÚC-LẠC (Nguyễn Diễm Nga – K17/2 )

TRÔI THEO DÒNG PHÚC-LẠC
(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 115- Tháng 1/2019 )

Cô Diễm Nga, K17/2 trong buổi hội ngộ 55 năm (2017) của Khóa 17

Bỗng dưng, tôi chợt thấy mình trong vai cô nàng June Woo -người dẫn chuyện trong phim “The Joy-Luck Club” (Phúc Lạc Hội) – tên một bộ phim ra đời năm 1993 được dựng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mỹ gốc Hoa Amy Tan.

Đây là một phim mà tôi rất thích và đã tìm đọc tiểu thuyết để có thể hiểu rõ hơn tâm lý các nhân vật. Trong phim, nữ tài tử Kiều Chinh yêu mến của cộng đồng người Việt chúng ta đã thủ vai bà mẹ Suyuan Woo (mẹ của June Woo) – một trong bốn vai chính trong phim kể về cuộc đời của bốn bà mẹ trong thời Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra tại Hoa Lục và sự kết nối giữa họ với thế hệ thứ hai trên xứ sở lưu vong. Một câu chuyện đẹp ghi lại tâm tư qua lăng kính của những người con gái những cảm nghĩ về cuộc đời các bà mẹ qua khói lửa chiến tranh và thời hậu chiến bằng một sự thấu hiểu, cảm thông và đầy kính trọng.

khác chăng là trong câu chuyện của tôi, không phải là bóng hình và cuộc đời của những bà mẹ, mà là của những người cha, người chú dưới màu áo chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Câu chuyện của tôi cũng không xoay quanh bàn mạt chược, mà xoay quanh sự nối kết về những đề tài văn bút thân tình. Vì thế, có lẽ là tôi đang… mạo muội, đưa các “ông bố” ngồi vào chiếc ghế của các “bà mẹ”, rất có thể họ sẽ… nổi giận!

Tuy nhiên, tôi có lòng tin rằng họ sẽ tha thứ cho tôi, một khi họ thấu hiểu được những cảm xúc “Phúc-Lạc” trong lòng tôi qua khoảng thời gian mấy chú cháu đã liên lạc cùng nhau trong một tinh thần tương thân tương ái.

Đầu tiên, xin cho tôi chia sẻ về chữ “Phúc” (Luck)

Người xưa thường nói “phúc họa khôn lường” và câu chuyện “Tái Ông thất mã” thường là một lời an ủi cho những ai không may mắn khi gặp… họa. Tái Ông gặp “họa” khi mất con ngựa đực, nhưng rồi lại có “phúc” khi con ngựa đực bỗng dưng quay về mang theo một con ngựa cái, rồi cặp ngựa sinh ra ngựa con. Con trai ông Tái cưỡi ngựa con lại bị cái “họa” ngã ngựa gãy chân. Nhưng vì gãy chân nên anh con trai lại có “phúc” không phải làm một anh lính Tàu… bành trướng. Thật đúng là một chuỗi phúc hoạ khôn lường! Continue reading

HIỂU BIẾT NGẮN GỌN VỀ TVBQGVN (Đặng Đình Liêu, K19)

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 115- Tháng1/2019 )

A. MỤC ĐÍCH:

Trong cuộc sống hàng ngày, có những lúc chúng ta muốn biết thêm về TVBQGVN, thí dụ như từ đâu có truyền thống leo đỉnh Lâm Viên, lúc nào có bản “Võ Bị Hành Khúc, v…v… Mục đích của bài viết này nhằm trình bày ngắn gọn những điều cần biết về TVBQGVN, để giúp chúng ta tìm hiểu, mà không đòi hỏi nhiều thời gian tra cứu tài liệu.

B. TÊN TRƯỜNG:

1. Trường Sĩ Quan Việt Nam (TSQVN) thành lập tháng 10/1948 tại Đập Đá, Huế.

2. Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (TVBLQĐL). Thủ Tướng Trần Văn Hữu ký nghị định di chuyển TSQVN về Đà Lạt và đổi tên thành TVBLQĐL, vào tháng 12/ 1950.

3. Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1960, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng TVBQGVN tại đồi 1515 ngay cạnh khu trường cũ. Tháng 8/1961, hai Khóa 16 và 17 được chuyển sang khu trường mới. K18 là khóa đầu tiên hoàn toàn thụ huấn tại trường mới này, từ ngày đầu tiên.

Nhận xét: Trong số các khóa chính, K10 có quân số đông nhất, 442 người; Khóa 15 có quân số ít nhất: 56 người.

C. NGHỊ ĐỊNH SỐ 317/QP/TT

Do Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 29/7/1959 cải tổ TVBLQDL thành TVBQGVN với quy chế của một trường cao đẳng có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan nòng cốt cho QLVNCH, có căn bản quân sự vững chắc và trình độ văn hóa bậc đại học. Thời gian thụ huấn là 4 năm.

Trong phần cuối của điều 6 NĐ này ghi rõ:

“Đối với những cựu SVSQ theo học chương trình 2 năm và có bằng Tú Tài I được miễn thi chứng chỉ Toán Lý Hóa MPC, hay Toán Đại Cương MG và nhập học khỏi thi vào năm thứ 2 các trường cao đẳng chuyên nghiệp Quốc Gia, không vượt quá tỷ lệ 20%.”

Điều 6 này đã giúp nhiều cựu SVSQ tốt nghiệp 2 năm, sau khi bị thương giải ngũ đã được nhập học các trường như Quốc Gia Hành Chánh, Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, v…v…

D. THAY ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN:

1. Khóa 12 là khóa đầu tiên được chuyển đổi từ chương trình huấn luyện theo Pháp sang chương trình theo Mỹ giống như West Point. Thay đổi từ quân phục, tới huấn luyện cơ bản thao diễn, vũ khí v…v…

2. Theo Kỷ Yếu Khóa 12, hàng ngày Đại Úy Sergeant, thuộc Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ đặt cạnh TVBQGVN, đã huấn luyện cơ bản thao diễn kiểu Mỹ đến các sĩ quan Việt Nam phục vụ tại trường, trong đó có Trung Úy Huỳnh Bửu Sơn để từ đó huấn luyện cho các SVSQ.

3. Sau này, Đại Úy Huỳnh Bửu Sơn đã huấn luyện K19 biểu diễn thành công Cơ Bản Thao Diễn với số lượng đông đảo SVSQ/K19 trong ngày mãn khóa K18 và đã được khán giả cổ võ nồng nhiệt.

4. Khóa 12 và 13 theo học chương trình Đại Đội Trưởng tại Fort Benning Georgia, cũng có một số SVSQ theo học các binh chủng khác. Để có đầy đủ quyền lợi của SQ theo học tại Fort Benning, cả 2 Khóa 12 và 13 đều được ra trường trước khi sang Mỹ thụ huấn.

E. VÀI NÉT ĐẶC BIỆT:

1. TVBQGVN đã và đang huấn luyện 31 khóa SVSQ vả 3 khóa phụ. Trong đó, đào tạo được 29 khóa với tổng số 5.818 thiếu úy, và 3 khóa phụ với tổng số 496 thiếu úy và 108 chuẩn úy. Trường còn hai Khóa 30 và 31 đang theo học cho tới ngày cuối cùng, với tổng số 464 SVSQ.

2. Khóa 28 và 29 tốt nghiệp 9 ngày trước khi miền Nam bị CS Bắc Việt chiếm đóng. Sau lễ mãn khóa vô cùng đơn giản và sau vài giờ chọn đơn vị (chọn lần 2), các tân sĩ quan bước thẳng lên đoàn xe GMC đậu sẵn bên ngoài di chuyển ngay đến các mặt trận đang sôi động. Dù thời gian ngắn ngủi, cũng đã có một số tân sĩ quan hy sinh, hoặc mất tích trong những ngày đầu tiên của cuộc đời binh nghiệp và cuối cùng của cuộc chiến!

3. Hai Khóa 30 và Khóa 31 đều di tản về Trường Bộ Binh Long Thành ngày 30/3/75, sau đó được chuyển về trường Bộ Binh Thủ Đức, phòng thủ tại đây cho đến giây phút cuối cùng, tới sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

4. Khóa 16 có nhiều sĩ quan tốt nghiệp ở lại trường, đa số làm sĩ quan cán bộ đại đội trưởng của 8 đại đội SVSQ, cũng như là huấn luyện viên quân sự, thuộc các khoa vũ khí, chiến thuật, địa hình… Từ 1974, đã có một số sĩ quan thuộc Khóa 23 về phục vụ tại trường, từ Quân Sự Vụ đến Văn Hóa Vụ; bao gồm khoảng 10 sĩ quan thuộc VHV và khoảng 6 sĩ quan cán bộ đại đội trưởng SVSQ và một huấn luyện viên thuộc QSV.

5. K22 được chia thành 2 Khóa 22A và 22B, sau năm thứ nhất.

6. Đại Tá CHT Đỗ Ngọc Nhận, lúc còn là Thiếu Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ (Từ 1968, trở thành Trung Đoàn SVSQ), đã đưa ra ý kiến các TKS sau khi chinh phục đỉnh Lâm Viên mới trở thành SVSQ, qua lễ gắn alpha.

7. Bắt đầu từ 1968, để thích ứng với chiến trường, một số sĩ quan ngoài đơn vị đã được đưa về trường làm sĩ quan cán bộ để truyền bá kiến thực tế về chiến trường, cũng như hướng dẫn SVSQ hiểu biết thêm về tác chiến.

8. Mặc dù mục tiêu của chương trình huấn luyện quân sự là đào tạo sĩ quan cấp trung đội trưởng Bộ Binh. Nhưng với kiến thức quân sự cấp đại đội, cùng một số ý niệm sơ khởi về hoạt động cấp tiểu đoàn, cùng lãnh đạo chỉ huy, các sĩ quan tốt nghiệp mau chóng nắm các chức vụ cao hơn, như đại đội phó, đại đội trưởng ngay khi vừa nhận đơn vị, hoặc sau vài tháng khi đã thu thập đủ kinh nghiệm chiến trường.

Trước đây, Không Quân và Hải Quân tuyển chọn sĩ quan cho đơn vị mình vào trước ngày mãn khóa. Các tân sĩ quan sẽ học chuyên môn tại các trường thuộc quân chủng này. Từ 1971, bắt đầu từ khóa 25, vào đầu mùa Quân Sự năm thứ ba, những SVSQ chọn Không Quân và Hải Quân sẽ theo học ngành chuyên môn của mình, tại trường dành cho quân chủng, trong khi các SVSQ thuộc Lục Quân tiếp tục học quân sự tại trường. Mỗi khóa được lập thành 10 đại đội (trước đây là 8 đại đội/ mỗi khóa), gồm 8 thuộc Lục Quân, một thuộc Hải Quân, và một thuộc Không Quân. Vào mùa Văn Hóa, tất cả SVSQ về trường và học chung một chương trình.

9. Văn Hóa Vụ được tăng cường thêm giảng viên cho chương trình huấn luyện để các SVSQ tốt nghiệp khóa huấn luyện 4 năm có trình độ đại học. Bắt đầu từ Khóa 22B, 23, và 24, Văn Bằng Tốt nghiệp TVBQGVN tương đương với văn bằng Kỹ Sư ngoài dân chính. Kể từ Khóa 26, và 27, sĩ quan tốt nghiệp được cấp Văn Bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng, do TVBQGVN ký.

10. Một số sĩ quan của Khoá 22B, 23, 24, 25 (khoảng 10% sĩ quan tốt nghiệp) được đi tu nghiệp tại Mỹ để lấy thêm văn bằng Cao Học (MA hoặc MS), về giảng dạy tại trường. Chương trình này bị gián đoạn từ năm 1973 nên chỉ có một số sĩ quan khoá 22B và 23, đang ở Mỹ, được tiếp tục theo học cho đến khi tốt nghiệp. Một số đã trở về và được thuyên chuyển đến Văn Hóa Vụ làm giáo sư.

11. Các sĩ quan tốt nghiệp khóa 4 năm, có thể ghi danh học thêm tại các trường đại học dân chính, để tiếp tục lấy văn bằng Cao Học. Từ 1972, đã có các sĩ quan tốt nghiệp các khóa này, trong đó có một số đã giải ngũ do bị thương tật ngoài mặt trận, đã theo học bậc cao học tại Trường Khoa Học Saigon, Vạn Hạnh, Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt,…

F. CÁC KHÓA HUẤN LUYỆN TKS:

Chương trình huấn luyện Tân Khóa Sinh bắt đầu từ Khóa 13, như sau:

– K13 huấn luyện K14. – K22A huấn luyện K23
– K14 huấn luyện K15 & K16 – K22B huấn luyện K24
– K15 huấn luyện K17 – K23 huấn luyện K25 & 26
– K17 huấn luyện K19 – K24 huấn luyện K27
– K18 không huấn luyện – K25 huấn luyện K28
– K19 huấn luyện K20 – K26 huấn luyện K29
– K20 huấn luyện K21 – K27 huấn luyện K30
– K21 huấn luyện K22 – K28 huấn luyện K31

G. THAM DỰ HUẤN LUYỆN TẠI NGOẠI QUỐC:

1- Tất cả 2 Khóa 12 và 13, sau khi mãn khóa, đều được gửi qua Fort Benning, Georgia của Hoa Kỳ để thụ huấn chương trình “Đại Đội Trưởng”.

2- Trường Võ Bị Quốc Gia Phi Luật Tân đã mời TVBQGVN gửi một SVSQ sang học tại trường này. SVSQ Trần Tiến Đạo, K14 được đề cử theo học. Sau đó, SVSQ Trần Tiến Đạo trở về trường cùng dự lễ tốt nghiệp với K14.

3- Năm 1963, TVBQGVN đã tuyển chọn 5 SVSQ/ K19 theo học tại Học Viện Quân Sự West Point. Trong lúc đang trau dồi Anh Ngữ thì các SVSQ này có lệnh ngưng học. Các SVSQ này có tên như sau:

  • Thái Bông – SĐ/TQLC,
  • Lê văn Kịch – Biệt Đoàn 300,
  • Nguyễn Văn Hóa – SĐ1/BB,
  • Hồ Ngọc Hoàng – SĐ/TQLC,
  • Hoàng Đôn Tuấn – SĐ/TQLC.

4- SVSQ Phạm Minh Tâm, Khóa 25, được chọn theo học West Point. Anh tốt nghiệp năm 1974 trở về trường làm sĩ quan cán bộ.

5- Hai SVSQ Khóa 28 là Nguyễn Trí Dũng và Lê Quang Vinh được gửi đi thụ huấn tại Trường Sĩ Quan Australia, tốt nghiệp năm 1974 và trở về làm huấn luyện viên tại trường, trong khi Khóa 28 vẫn còn là SVSQ.

H. ANH EM RUỘT THEO HỌC CÙNG MỘT KHÓA:

1. K10 có ba cặp:

  • Nguyễn Trọng Kính – Nguyễn Văn Thuận
  • Nguyễn Hữu Nhơn – Nguyễn Hữu Duệ
  • Trần Khắc Thiều – Trần Khắc Chiến

2. K16 có ba cặp:

  • Nguyễn Xuân Phúc – Nguyễn Phú Thọ
  • Trần Đăng Khôi – Trần Đăng Khoa
  • Hồng Ngọc Hinh – Hồng Ngọc Hòa

3. Khóa 17 có một cặp:

  • Võ Tình – Võ Ý

3. K19 có hai cặp:

  • Phạm Ngọc Dao – Phạm Ngọc Bách
  • Nguyễn Vĩnh Gia – Nguyễn Vĩnh Giám

4. K20 có một cặp:

  • Nguyễn Hữu Phước – Nguyễn Hữu Thọ

I. CÁC BÀI HÁT DO SVSQ SÁNG TÁC:

“Võ Bị Hành Khúc” do SVSQ Lê Như Hùng sáng tác khi còn là SVSQ của Khóa 14.

“Đà Lạt Trường Tôi” do CSVSQ Nguyễn Thiện Thành của Khóa 19 sáng tác năm 1992, sau khi định cư tại Mỹ với bút hiệu là Hoàng Gia Thành.

J. DANH TỪ “CÙI”:

Danh từ do Đại Tá Trần Ngọc Huyến gọi thân mật các SVSQ trong giờ học Đạo Đức, bao gồm các khóa 14, 15, 16, 17, 18. Danh từ này đã được ông xử dụng lần đầu khi ông là Văn Hóa Vụ Trưởng và được phổ biến rộng rãi đến nhiều khóa sau này. Khi có người hỏi ý nghĩa thì ông chỉ nói, “Cùi nghĩa là Cùi chứ còn gì nữa.” Nhưng tất cả đều hiểu rằng ông muốn các học trò của ông đừng bao giờ tự mãn, tự thị, hãy học thêm để phục vụ những việc tốt đẹp. Trong thư gửi ca ngợi sự thành công của K16 sau khi ra trường, Đại Tá Huyến cũng dùng từ ngữ “Cùi”.

K. TẬP SAN ĐA HIỆU:

1. Trước năm 1975:

Cuối năm 1959 khi trường được đổi tên thành TVBQGVN thì tờ Nội San Đà Lạt Tiến cũng được đổi tên thành Tập San Đa Hiệu, với Ban Biên Tập đầu tiên là các SVSQ đang theo học, như: Chủ Nhiệm Bùi Quyền-K16, Tổng Thư Ký Nguyễn Duy Sự-K16 (Sương Mặc Lam), cùng với sự cộng tác của Võ Tình-K17, Võ Ý-K17, Vũ Xuân Thông-K17, Phan Nhật Nam-K18, Nguyễn Ngọc Khoan-K18 (Từ Thế Mộng); Phạm Ngọc Khuê-18, Nguyễn Văn Thiệt-K18. Bài vở do SVSQ các khóa viết. Đại Úy Võ Văn Sung-K17 đã liên tục đảm nhiệm vai trò chủ bút cho tới 1975.

Khuôn khổ tập san cũng có cùng cỡ, kích thước với tập san xuất bản tại hải ngoại sau này nhưng mỏng hơn. Tập San Đa Hiệu đã xuất bản được 80 số.

2. Sau năm 1975:

Tập San Đa Hiệu được tục bản vào tháng vào tháng 3/1983, theo quyết định của Đại Hội Võ Bị kỳ II được tổ chức tại thành phố San Jose. Tập San Đa Hiệu giờ đây là tiếng nói của của Tổng Hội CSVSQ/ TVBQGVN, với chủ bút là thành viên của Ban Chấp Hành Tổng Hội CSVSQ/ TVBQGVN.

Cho tới nay Tập San Đa Hiệu, xuất bản tại hải ngoại, đã đạt tới số 115 (tháng 1/2019), một chặng đường rất dài, nhiều hơn trước năm 1975.

Chúng ta thấy Đa Hiệu có công kết nối toàn thể CSVSQ/ TVBQGVN trên toàn thế giới. Qua Đa Hiệu, các CSVSQ có thể theo dõi sinh hoạt của từng khóa, hay hội tại từng địa phương, và lập trường của Tổng Hội với bài vở và hình ảnh phong phú.

Tập San Đa Hiệu ngày nay đã được đông đảo các cựu sĩ quan thuộc Quân Sự Vụ và Văn Hóa Vụ, cùng CSVSQ và phu nhân; đặc biệt từ các thế hệ kế thừa Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu tham gia viết bài với nhiều thể loại từ lập trường chính trị, thơ, chuyện tình, các trận chiến khốc liệt như Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa tại Cổ Thành Quảng Trị, giải tỏa An Lộc, v…v…

L. SÀNG LỌC SVSQ SAU KẾT QUẢ HỌC TẬP:

1- Thời gian Tân Khóa Sinh: Vì không chịu được thử thách về thể chất và tinh thần trong Mùa Tân Khóa Sinh, một số người bị loại khỏi khóa học và được trả lại đời sống dân chính.

2. Sau kết quả học tập cuối năm: Do không đủ điểm sau kỳ thi văn hóa hay quân sự, cũng như vi phạm kỷ luật, một số SVSQ bị ra trường với cấp bậc trung sĩ, thượng sĩ, hay chuẩn úy, tùy thuộc vào số năm đã học. Sau kết quả học tập năm thứ nhất, một số lớn SVSQ bị ra trường với số lượng khác nhau theo từng khóa.

M. CÁC KHÓA PHỤ:

1. Khóa 9 phụ (Khóa 3 phụ Đống Đa): Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức gửi 120 người lên thụ huấn tại TVBQGVN vào năm 1953. Năm 1954 có 114 SVSQ tốt nghiệp. Thủ khoa: Thiếu Úy Nguyễn Xuân Diệu. Cùng khóa có Chuẩn Tướng Nguyễn Bá Liên – TQLC, Đại Tá Lê Quang Tung – LLĐB.

2. Khóa 10 phụ (Khóa 4 phụ Cương Quyết): 19/03/1954 – 1/10/1954. 250 SVSQ được Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức gửi lên thụ huấn tại TVBQGN. Thủ khoa: Thiếu Úy Ngô Văn Lợi.

3. Khóa 11 phụ (Khóa 5 Vì Dân), nhập học ngày 21/05/1954: Vì không còn chỗ nên Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức gửi 240 SVSQ lên học tại TVBQGVN. Có 120 SVSQ đến từ miền Bắc, được đặt tên là ĐĐ7. 120 SVSQ đến từ miền Trung và Nam, được đặt tên là ĐĐ8. Khóa 5 Vì Dân đã có 131 tối nghiệp thiếu úy, số còn lại tốt nghiệp chuẩn úy vào ngày 29/01/1955 (ngoại trừ một trung sĩ). Thủ khoa: Thiếu Úy Đỗ Đăng Di. Đại Tá Phạm Bá Hoa đã tốt nghiệp từ khóa này.

N. VỊ QUỐC VONG THÂN:

1. Không tránh khỏi ngoại lệ, các sĩ quan tốt nghiệp từ TVBQGVN, vốn hầu hết là các đơn vị trưởng thuộc các quân binh chủng của quân đội VNCH, đã phải gánh chịu nhiều tổn thất về nhân mạng. Một số đã anh dũng hy sinh. Trong tổng số 5,818 sĩ quan tốt nghiệp, đả có khoảng 850 tử sĩ. Máu của họ đã hòa chung với máu của hằng trăm ngàn binh sĩ và đồng bào, đã đổ ra cho độc lập và tự do. Khi mặt trận trở nên khốc liệt, bắt đầu từ Khóa 16 cho đến khóa 26, đã có khoảng trên 600 sĩ quan tốt nghiệp, tử trận. Dưới đây là những thiệt hại điển hình ghi nhận được:

– Khóa 19: 98/395. Tỷ lệ 25%.

– Khóa 20: 117/404. Tỷ lệ 29%.

– Khóa 21: 61/240. Tỷ lệ 26%.

– Khóa 22: 67/276. Tỷ lệ 25%.

2. Thống kê trên chưa kể đến hàng ngàn sĩ quan bị thương tật, mà họ phải gánh chịu cho đến mãi sau này.

3. Chiến tranh chấm dứt từ năm 1975, nhưng thiệt hại không ngừng ở đó. Đã có khoảng hàng trăm cựu sĩ quan VB bị bỏ xác trong các trại tù CS, hoặc tự sát sau 30 tháng 4, năm 1975.

4. Thống kê trên cũng chưa kể đến thiệt hại của các khóa phụ, đã theo học tại TVBQGVN.

Xin hãy dành một phút im lặng để tưởng nhớ đến các tử sĩ, xuất thân từ trường Võ Bị, đã vị quốc vong thân!

O. THAM KHẢO:

– Ngoài các “Tập Kỷ Yếu” của các Khóa 10, 12, 13, 14, 17, 18, 19 SVSQ/ TVBQGVN, người viết còn được cựu Thiếu Tá Hồ Đắc Huân cung cấp thêm tài liệu, liên quan đến Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

((Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được thành lập năm 1951. Gián đoạn 2 năm vì Hiệp Định Genève (1955-1957). Trường hoạt động trở lại và đổi tên thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (1957-1963). Từ 1963 đến 1964, trường lấy lại tên cũ là Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau cùng, trường lại được đổi tên một lần nữa thành Trường Bộ Binh Thủ Đức, 1964.))

– Khoá 16/ TVBQGVN của CSVSQ Trần Ngọc Toàn, K16.

– “Vài Nét về Tập San Đa Hiệu” của CSVSQ Võ Công Tiên, Khóa 26, trong Đa Hiệu 109.

– Các trang web khác.

* Muốn tìm hiểu thêm, xin vào tvbqgvn.com, click vào mục Tài Liệu, chọn Bài Viết về TVBQGVN.

Đặng Đình Liêu, K19

GIAO SẮC (Nguyễn Văn Giáo, K20)

GIAO SẮC
(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 101- 39 Năm Quốc Hận )

(Viết theo lời kể của một Thương Phế Binh loại 3 (Tàn Tật Vĩnh Viễn 80%),
cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.)

Thân tặng các bạn bè đã quen, chưa quen, ở:

– Trường Tiểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây II, Thị Nghè,
– Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn,
– Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Sư Đoàn 9 Bộ Binh,
– Và các bạn bè còn lành lặn, các Thương Phế Binh trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, khắp Bốn Phương Trời.
Continue reading

Chuyện suýt thành dân Võ Bị (Nguyễn Đình Cường)

VĐ xin chia xẻ với quý Anh/Chị câu chuyện của anh Nguyễn Đình Cường.

Thân gửi bạn Vĩnh Đương,

Bạn coi attachment (hình ông anh cả tôi) trước nhé, để ý trên cái lon Trung Úy có thêu 2 vạch vàng còn có hình con rồng (biểu hiệu của Ngự Lâm Quân).

Ông anh cả của tôi, Nguyễn Đình Toàn, sinh năm 1930, tốt nghiệp khóa 3-VB Liên Quân Dalat  (tên gọi hồi đó) khoảng hè năm 1951, cùng với các anh Lâm Q. Thi & Thơ, Lữ Lan, Nguyễn Xuân Thịnh (các ông này về sau lên đến Trung tướng). Hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, thì một tháng sau, ngày 20-8 anh Toàn đã đón Bố mẹ tôi/anh vào Dalat. Hồi đó vì là sĩ quan Ngự Lâm Quân, nên gia đình được đi máy bay của quân đội Pháp vô thẳng phi trường Liên Khàng (sau này thời ông Diệm mới đổi là phi trường Liên Khương). Dalat hồi đó còn là Hoàng Triều Cương thổ.

Năm 1955 anh Toàn lên Đại úy. Nhưng vì vướng vô Ngự Lâm Quân của Cựu hoàng Bảo Đại nên anh bị đì rất kỹ sau khi ông NĐ Diệm truất phế BĐ và lên làm TT Đệ nhất VNCH. Anh ấy phải đóng quân ở các tiền đồn Dakto, Dak-Suk từ hồi đó. Sau khi ông Diệm bị đảo chính anh ấy mới lên được Thiếu tá. Sau nhiều lần thuyên chuyển đơn vị, chức vụ cuối cùng là Trung tá phụ trách khối Thanh tra VBQG Dalat 1975. May mắn thoát sang Mỹ ngay năm 1975. Anh đã qua đời cách đây 4 năm, thọ 87 tuổi.

Ông này là người ngăn cản tôi đi khóa 17-VBQG. Số là sau khi đã đậu Tú tài 1 năm 1960, tôi nộp đơn xin vào khóa 17-VBQG Dalat ngay. Hồi đó có Tú tài 1 là nhập học VB miễn thi tuyển. Bố tôi là người rất khuyến khích tôi theo ngành võ vì cụ nói họ Nguyễn Đình là con cháu cụ Tổ Nguyễn Xí, tướng của vua Lê Lợi ngày xưa (Thế kỷ 15).

Sau khi hoàn tất mọi thủ tục tôi nhận được giấy lên Ban Mê Thuột khám bệnh lần chót trước khi lên Dalat nhập học khóa 17, đó là một sáng mùa hè năm 1960, 2 hạ sĩ quan đi command car đến nhà đưa giấy tận tay ký nhận.

Ông Toàn, sau 5 năm không hề về thăm gia đình một lần, thì bỗng lù lù chiều hôm đó về Nha Trang thăm gia đình. Trong bữa cơm đoàn viên chiều hôm đó có 4 người, bố mẹ tôi và 2 anh em tôi. Giữa bữa ăn, tôi ngập ngừng nói :” Thưa anh ngày mai em lên Ban Mê Thuột” – Ông ấy hỏi liền “Mày lên làm gì?”- ” Dạ em nộp đơn tình nguyện đi khóa 17 VB Dalat, đã xong mọi thủ tục, và ngày mai lên BMT khám bệnh lần chót trước khi nhập học…” Một tiếng “bình” đập bàn ăn thật mạnh, ông ấy gằn từng tiếng “Đời tao đã khổ như con chó mày còn đi lính làm gì. Nhà có 2 anh em, mày được hoãn dịch. tại sao lại đi lính. Dẹp!” Thế là mẹ tôi chu chéo lên “Tao không muốn cho nó đi lính, mà bố mày cứ chiều theo ý nó”. Bữa ăn đoàn viên chìm trong tẻ nhạt. Mấy hôm sau anh ấy trở về đơn vị trên Pleiku.

Chuyện chưa hết. Không nhập học khóa 17, thì tôi vẫn lên lớp Đệ Nhất tiếp tục tại TH Võ Tánh Nha Trang. Đậu Tú Tài 2 năm 1961, về Saigon thi vô mấy ĐH chuyên nghiệp như Nông Lâm Súc, Sư Phạm, QG Hành Chánh không đậu, tôi lên học tại ĐH Đalat, vì vốn mê thành phố này. Học 1 năm, thấy tương lai bấp bênh, tôi và mấy tên bạn khác học ở Saigon,  lại rủ nhau nộp đơn học khóa 19 (năm 1962). Cũng vậy, thủ tục giấy tờ và sức khỏe xong hết, sắp sửa lên Dalat nhập học, thì tôi đậu vô ĐH Sư phạm Saigon và thế là không đi VB nữa và cuộc đời tôi rẽ sang dân sự. Tôi tốt nghiệp ĐHSP năm 1965. Cho đến khi lệnh Tổng Động viên ban hành năm 1968, những ai sinh sau ngày 1-1-1943 thì đi học hết nguyên khóa tại Thủ Đức và ra đơn vị, một thời gian sau mới được biệt phái. Mà tôi sinh tháng 9-1942, trước đó 3 tháng,  nên chỉ học có 9 tuần tại TTHL Thất Sơn (Châu Đốc) rồi được biệt phái về dậy học trở lại. Đúng là không có số đi lính !

Chuyện cũng dài rồi đấy nhỉ. Kể bạn nghe cho vui.

Thân mến,

NĐ Cường

ĐÀ LẠT THÁNG BA, DÒNG KỶ NIỆM BUỒN (Thiên Lý)

Đà Lạt Tháng Ba, Dòng Kỷ Niệm Buồn

Tháng ba nào con cũng nhớ cha
Nhớ ngày di tản đã rất xa
Cha lo đôn đáo tìm phương tiện
Trách nhiệm việc công với việc nhà


Tháng ba, loạn lạc nỗi đau chung
Đạn pháo rền vang khắp mọi vùng
Ồ ạt sóng người xô nhau chạy
Gồng gánh hai vai những hãi hùng

TL Continue reading

MÙA XUÂN ĐẾN MUỘN (Thiên Lý)

Chuyện bắt đầu vào những năm tháng khó khăn nhất trong gia đình tôi. Những ngày mẹ tôi bị ốm, mọi việc hầu như rối tung cả lên khi thiếu vắng sự lo toan và bàn tay điều khiển của mẹ trong nhà.

Năm ấy, tôi hai mươi mốt tuổi, lần đầu tiên tôi được mẹ giao phó nhiệm vụ đi thăm cha tôi một mình ở trại “cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa. Thường thì những lần thăm nuôi trước thỉnh thoảng tôi đi với mẹ, có khi mẹ tôi cho các em tôi theo mỗi đứa thay phiên nhau theo mẹ đi thăm cha một lần. Nhưng lần này, mẹ tôi đang bị bệnh, tiền vé tàu xe lại càng ngày càng lên giá nên việc hạn chế số người đi thăm cha tôi là điều tôi phải hiểu… Mẹ căn dặn tôi đủ điều và quan trọng hơn là hỏi ý kiến cha tôi về chuyện mẹ sẽ …gả chồng cho tôi. Nghĩ đến đó, lòng tôi lại hoang mang, bối rối. Hai hôm trước, mẹ sốt mê man, tôi biết chắc là mẹ đau trong người lắm, mẹ không ăn gì cả chỉ nằm rên khe khẽ.Tôi đến gần mẹ, lúng túng, lo sợ, hết sờ trán rồi nắm tay gọi mẹ cuống cuồng. .. Mẹ ơi, mẹ đừng làm con sợ, mẹ ráng khoẻ lên nhé. Tôi nghe tiếng mẹ thều thào bên tai một dự định như lời trăn trối: Continue reading