Archives

ĐẠI HỌC CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ “DI TẢN” (Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh)

ĐẠI HỌC CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ “DI TẢN”
Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh,
Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học CTCT Đà Lạt

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, trong tư cách cựu Chỉ huy trưởng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, năm 2002, đã viết bài hồi ký sau đây kể lại cuộc di tản của hai Quân trường Đà Lạt (Võ Bị và CTCT) và Tiểu khu Tuyên Đức, vào cuối tháng 3, 1975. Bài đã được đăng trong Đặc san Ức Trai (Tổng Hội ĐH/CTCT) số Đặc Biệt 30-4 năm 2002. Nhân kỷ niệm ngày Quốc Hận năm nay, chúng tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả bài hồi ký do Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh viết đã mười lăm năm.

Continue reading

ĐÀ LẠT, MỘT THỜI YÊU DẤU CŨ (Kim Thanh)

ĐÀ LẠT, MỘT THỜI YÊU DẤU CŨ
Kim Thanh-
Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội,
Văn Hóa Vụ/ Trường Chính Tranh Chính Trị

[…] Tối 31/3/1975, nghe Trường có lệnh di tản, tôi bỏ lại chiếc Peugeot 203, trước căn nhà thuê, khu chợ Chi Lăng, vì không có xăng, và đi bộ, lưng đeo ba lô (đựng đồ lặt vặt, một bộ quân phục sạch, vài quyển sách, và một chai cognac XO Courvoisier do anh bạn Tây Alain Bichet mua tặng), lên Trường xin quá giang xe jeep của Thiếu tá Lê Ân, Văn Hóa Vụ trưởng, xếp trực tiếp của tôi. Cùng chung xe, có Bác sĩ Đặng Phùng Hậu, trưởng bệnh xá Trường (cũng bỏ lại xe hơi riêng, có lẽ bởi thiếu xăng, giống tôi), và Thiếu úy Nguyễn Ngọc Chẩn, sĩ quan phụ khảo, thuộc Khoa. Xe jeep của chúng tôi bắt đầu chuyển bánh lúc 12 giờ đêm 31/3, rạng sáng ngày 1 tháng 4, cùng với đoàn xe Trường Đại Học CTCT. Khi ai nấy an tọa xong, tôi bắt đầu khui chai cognac, rót ra bốn ly nhựa nhỏ, mời mọi người uống. Tôi nói, giọng có vẻ cải lương kiểu Hùng Cường, “xin tất cả cạn chén ly bôi, xem như những giọt rượu nồng cay này là những giọt nước mắt quê hương, để khóc cho đêm giã từ thành phố Đà Lạt thương yêu”. Thiếu tá Ân không uống, lấy cớ bị đau bao tử kinh niên, và đang lái xe. Càng uống, không hiểu sao, tôi càng thấy lòng buồn vời vợi, trước viễn ảnh tang thương, mịt mờ của đất nước. Càng buồn lại càng uống thêm. Làm nhớ bài thơ “Tương tiến tửu” của thi hào Lý Bạch: Ngũ hoa mã, Thiên kim cừu / Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu / Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu (Ngựa năm sắc, Áo ngàn vàng / Hãy bảo nhau lấy ra đổi rượu ngon / Để ta cùng các bạn diệt tan nỗi sầu -dịch bởi Nguyễn Danh Đạt, 1988).

Continue reading

CUỘC DI TẢN của TVBQGVN và NGƯỜI THƯƠNG BINH (Phan Văn Lộc)

Trong buổi tiệc của Hội Võ Bị Âu Châu, niên trưởng Nguyễn Thanh Đoàn K21, thuộc Bộ Chỉ Huy trường Võ Bị, kể cho Phạm Xuân Sơn K30 nghe việc trường Võ Bị di chuyển khỏi Đà lạt vào những ngày cuối tháng 3/1975. Khi di chuyển về đến Bình Tuy thì có một SVSQ khóa 30 bị thương nặng, khó sống được trong hoàn cảnh hỗn độn thiếu thốn trăm bề, nhưng NT Đoàn vẫn cầu nguyện xin ơn trên ban cho người SVSQ đó được tai qua nạn khỏi. Cho đến ngày hôm nay trong lòng niên trưởng vẫn nghĩ đến người SVSQ bị thương đó và không biết sống chết thế nào? Niên trưởng Đoàn hỏi Sơn có biết tin tức về người bạn đồng khóa đó không? Cảm động trước tấm lòng của người sĩ quan đàn anh, Sơn đã cho NT Đoàn biết người bị thương đó là Phan Văn Lộc, còn sống và hiện đang ở Mỹ.

Continue reading

Mùa Quốc Hận nhớ anh linh Anh hùng Nguyễn Ngọc Trụ, Cựu Cán Bộ Trường VBQG Đà Lạt (TÙ CỰU – XM520)

Mùa Quốc Hận nhớ anh linh Anh hùng Nguyễn Ngọc Trụ,
Cựu Cán Bộ Trường VBQG Đà Lạt

“Con ngựa phóng trên đồng cỏ, dưới chân nó là một thảm cỏ xanh mịn như nhung, nó không biết phía trước là một vực thẳm đang chờ sẵn, và con ngựa đã lao đầu xuống vực sâu vì mắt đã bị bịt. Người dân Xã Hội Chủ Nghĩa chính là những con ngựa đó.”
(Anh hùng Nguyễn Ngọc Trụ.)

Tôi trình diện cải tạo tại trường Lê Quang Định chiều 26-06-1975, hạn chót dành cho cấp Thiếu và Tr. Úy. Tối khuya ngày 28, tất cả được dồn lên xe. Không biết đi đâu. Chúng đưa chúng tôi đi quanh đi quẩn, đi lung tung, đi lắt đi léo, lúc ngừng lúc chạy. Cuối cùng, sau hơn chục giờ lươn lẹo, chúng tôi được “đổ quân” gần chân núi Bà Đen, vùng Trảng Lớn Tây Ninh, nơi có Bộ Tư Lệnh Tiền Phương cua Sư Đoàn 25 cũ, cách nơi xuất phát không đầy 2 giờ lái xe. Continue reading

TÔI GỌI HỌ -NGƯỜI LÍNH VNCH- LÀ ANH HÙNG (Đặng Chí Hùng)

– Trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc (theo cách gọi của tác giả Huy Đức) đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” như tôi từng chứng minh trong 2 bài “Những sự thật cần phải biết – phần 1” thì không thể đem thành bại ra mà luận anh hùng… Continue reading

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân: Hiện Tượng Độc Nhất‏

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân
Tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binhtruongquangan

… Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.

Continue reading

Chuyện Kể Thiếu Uý 9 Ngày (Phạm Văn Hùng)

Khi giặc chiếm Sàigòn tháng 4/75, mỗi người lính miền Nam đều phải đối mặt với những nghịch cảnh riêng: kẻ tự vẫn, người buông súng, kẻ tìm đường về nhà, người tìm đường ra khơi v.v….

Bài viết, Chuyện Kể Thiếu Úy 9 Ngày của Phạm Văn Hùng SVSQVBĐL K28 cung cấp cho chúng ta những chi tiết thật về việc đơn vị của anh đã buông súng như thế nào, và những gì đã diễn ra ngoài khơi vào các ngày 30/4, 1/5, và 2/5 năm 1975. Continue reading

Người Lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông (Lê Hữu)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Anh như ngàn gió
ham ngược xuôi theo đường mây…
(“Mấy dặm sơn khê, Nguyễn Văn Ðông)

Mời nghe chương trình Câu Chuyện Thơ Nhạc
của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ do Bích Huyền biên tập
với bài viết về nhạc Nguyễn Văn Đông của Lê Hữu

Continue reading

Hãy Vinh-danh Người Lính VIỆT NAM CỘNG HOÀ (Nguyễn Thị Thảo An)

nguoilinhvnch

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Continue reading

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh : Thanh Âm bất diệt, vượt quá Sự Chết.. (Phan Nhật Nam)

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh là người nghệ sĩ sống nổi trôi theo cùng với vận nước và cuộc chiến đấu bi tráng của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến 1960-1975 nơi Miền Nam. Thế nên, dẫu thuộc về thế hệ trẻ tuổi lớn lên sau 1975, không kinh nghiệm, liên hệ với cuộc chiến vừa qua. Theo diễn tiến thứ tự thời gian, qua các nhạc phẩm thì chúng ta gần như có đủ một bức tranh tổng thể cho cả miền Nam, lịch sử chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến ngày tàn cuộc 30 tháng 4 năm 1975.

Continue reading

Sinh Vi TƯỚNG, Tử Vi THẦN: Trung Tướng Dương Văn Đức

Lời giải thích của người viết:

Tôi viết lên đây, những gì đã được Huynh Trưởng Lê Phước Khánh (khoá 13 Thủ Đức) đã kể lại những sự việc tai nghe mắt thấy ở trại tù cải tạo Hoàng Liên Sơn, nhất là về Trung Tướng Dương Văn Đức.

Đã viết thì tôi bắt buộc phải viết lại y hệt những gì tôi đã nghe. Nếu không, tôi sẽ có lỗi với HT Khánh.

Nếu không ghi lại trung thực lời nói và viết của Trung Tướng Dương Văn Đức, tôi sẽ có lỗi với ông Tướng: Vì ông ta đã dám viết và dám kể lại, mà tôi lại không dám viết đúng những gì ông đã viết và đã nói.

Hơn nữa, câu chuyện này chỉ có giá trị ở những chữ mà ông đã ghi trong sổ tay mà thôi. Nếu không ghi đúng, câu chuyện sẽ mất hết cả lý thú đi, sẽ không còn là câu chuyện của Tướng Đức nữa. Continue reading

Đốt Hương Tưởng Niệm Trước Mồ (Ngô Văn Thu)

Tác giả Ngô Văn Thu tham dự Viết Về Nước Mỹ từ 2009 và đây là bài viết thứ ba của ông, tự sự của một cựu chiến sĩ về quê cũ tìm thăm mộ đồng đội cũ. Tác giả cho biết ông sinh tháng 10/1939. hiện là cư dân Houston, Texas. Trước 1975, là sĩ quan QLVNCH. Bị bắt làm tù binh ngày 16/04/1975 tại mặt trận Phan-rang. Ra tù 1984. Vượt biên 1986. Bị bắt giam ở nông trường dừa 30/04, tỉnh Trà-vinh. Năm 1987 trốn trại về Saigon. 1989 tái vượt biên đến Malaysia tháng 07/1989. Tháng 05/1993 định cư ở Mỹ. Continue reading

Những Người THƯƠNG PHẾ BINH

This slideshow requires JavaScript.

Tao bị thương hai chân,
Cưa ngang đầu gối ! Vết thương còn nhức nhối
Da non kéo chưa kịp lành…
Ngày “Giải phóng Miền Nam”
Vợ tao “ẳm” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!
Ngậm ngùi rời “Quân-Y-Viện”

Trong lòng tao chết điếng,
Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK!
Súng “Trung cộng” hay súng của “Nga”?
Lúc này tao đâu cần chi để biết.
Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do
Miền Nam nước Việt,
Mang chữ “NGỤY” thương binh.
Nên “Người anh,em phía bên kia…”
Đối xử với tao không một chút thân tình…!

Mày biết không !
Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.
Vợ tao: Như “Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…
Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,
Bụi đất đỏ mù bay!
Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,
Làm sao “Ôm” nổi bốn con người trong cơn gío lốc.
Cái hay là: Vợ tao dấu đi đâu tiếng khóc.
Còn an ủi cho tao, một thằng lính què !

Tao đóng hai cái ghế thấp, nhỏ bằng tre,
Làm “đôi chân” ngày ngày đi lại
Tao quét nhà, nấu ăn, giặt quần, giặt áo…
Cho heo ăn thật là “thoải mái” !
Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân
Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi
Bông trổ trắng ngần!
Lên liếp trồng rau, thân tàn tao làm nốt.
Phụ vợ đào ao sau vườn, rồi thả nuôi cá chốt.
Đời lính gian nan sá gì chuyện gió sương…

Xưa, nơi chiến trường
Một thời ngang dọc.
Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “buồn khóc”!
Vậy mà bây giờ…
Nhìn tao…nuớc mắt bả…rưng rưng !

Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.
Kể từ ngày mày “được đi cải tạo”!
Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời…
Có giúp được gì cho nhau đâu khi:
Tất cả đều tả tơi!

Rồi đến mùa “H.O”
Mầy đi tuốt tuột một hơi.
Hơn mười mấy năm trời…
Không thèm quay trở lại
Kỷ niệm đời Chiến binh
Một thời xa ngái.
Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu!

Mai mốt mầy có về thăm lại Việt Nam
Mầy sẽ là “Việt kiều”!
Còn “yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.
Tao đếch biết !
Về, ghé nhà tao. Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…
Còn rượu đế tự tay tao nấu
Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến…điếc !

Trang Y Hạ

o O o

Năm xưa chồng tôi là người lính,
nơi vùng lửa đạn, mồ hôi anh đã đổ.
Từ Hố Bò Bình Dương, Bình Long,
Đến Thừa Thiên, Quảng Trị.

Rồi một ngày anh gục ngã.
tại chiến trường Tây Ninh.
Tôi góa phụ xuân xanh,
Con thơ chưa tròn tuổi,
Tiễn đưa anh lần cuối,
Về nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Đã bao nhiêu năm qua,….
bây giờ, tôi ở nơi xa,
đã có cuộc đời khác.
Nhưng đôi lúc nghĩ đến anh
tôi vẫn khóc, thương tiếc xa xăm.
Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang,
Để thắp một nén nhang,
Nhớ người lính của một thời chinh chiến,
Nhớ người chồng của một thuở gối chăn.

***

Năm xưa chồng tôi là người lính.
Một lần hành quân, anh đã bị thương,
máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường.
Ôi, mảnh đất không tên,
đã giữ chút máu xương người lính trẻ.

Đã bao nhiêu năm qua,
bây giờ, anh thương binh tàn tạ.
Sống trên quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ,
bạn bè anh kẻ mất người còn,
kẻ quên người nhớ,
kẻ vô tình giữa dòng đời vất vả.

***

Năm xưa chồng tôi là người lính,
nồng nhiệt tuổi đôi mươi.
Lần đầu tiên ra chiến trường,
anh mất tích không tìm thấy xác.
Mẹ anh khóc cạn khô dòng nước mắt.
Lòng tôi nát tan.

Đã bao nhiêu năm,vẫn không có tin anh.
Anh ơi, dù quê hương mình
đã hết chiến tranh, tàn cơn khói lửa,
nhưng không phải là một quê hương như anh ước mơ.
Anh đã biết chưa?
Hỡi người tử sĩ không tên không một nấm mồ!!!

***

Năm xưa chồng tôi là người lính,
sống sót trở về sau cuộc đao binh,
sau những tháng năm tù tội.

Bây giờ anh không còn trẻ nữa.
Lìa xa quê hương, sống ở xứ người.
Những năm tháng chinh chiến đã đi qua,
nhưng vết thương đời còn ở lại.
Trong lòng anh, trong lòng những người lính năm xưa.

Nguyễn Thị Thanh Dương

VOA: Tâm sự một tướng lãnh Việt-Nam Cộng-Hoà về ngày 30/4

Tiếp tục loạt bài xoay quanh ngày 30 tháng Tư, Câu chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách tuần này xin gửi đến quý vị quan điểm của một cựu tướng lãnh Việt-Nam Cộng-Hòa về chiến tranh Việt Nam. Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam, cựu Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế, chia sẻ những ký ức và cảm xúc của ông trên chuyến tàu định mệnh, đã đưa ông ra khỏi quê hương vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Hoài Hương – VOA Continue reading