CHÁO TRÂN CHÂU MẮM MẮT PHƯỢNG (Vĩnh Đương)

Nói về ẩm thực, chúng ta ai cũng biết câu nói : “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Người Trung Hoa chú trọng nhiều về ẩm thực, cho nên họ thường nghĩ ra những món ăn cầu kỳ, hấp dẫn…Ngoài những món ăn thông thường họ luôn chú trọng đến chất lượng của món ăn để bổ dưỡng cho sức khỏe mà còn để tăng khả năng sinh lý nữa.

Năm 1874, thời nhà Thanh, trước sức mạnh của 8 nước phương Tây liên minh lại để triệt hạ Trung Hoa, Vua còn nhỏ nên việc nước đều do tay bà mẹ là Từ Hy Thái Hậu quyết định. Để hòa hoãn với kẻ thù Từ Hy Thái Hậu dùng phương sách ngoại giao để cầu hòa, bà đã cho mở yến tiệc để thiết đãi rất hậu các sứ thần của Bát quốc. Thái thú Lý Hồng Chương được giao sứ mạng tổ chức yến tiệc linh đình tại Duy An Cung. Ông ta đã ra lệnh mỗi tỉnh cử 10 đầu bếp giỏi nhất về kinh đô để bàn bạc đưa ra một thực đơn thật đặc biệt.

Bữa tiệc bắt đầu vào đêm giao thừa năm 1874 với 400 thực khách và thực đơn 140 món. Chi phí ước tính là 98 triệu “hoa viên” Trung Hoa, tương đương 374 ngàn lượng vàng thời bấy giờ. Trong thực đơn có nhũng món ngon vật lạ, hiếm quí và nấu nướng công phu cầu kỳ như sau :

Chuột Bao Tử : chuột đồng được nuôi bằng bột gạo trộn lòng đỏ trứng gà và các vị thuốc bắc, uống nước sâm, chuột được tắm một ngày 2 lần. Nuôi như vậy cho đến chuột con đời thứ ba sinh ra còn đỏ hỏn, kết tinh của sâm và thuốc bắc mới đem ra dùng.

Cỏ Phương Chi : một loại cỏ chỉ mọc vào những năm nhuận trên đá ở núi Thái Hăng được lấy về phơi khô để dành khi ăn thì nấu với Long Tu. Món này giúp cho trí óc minh mẫn, sáng suốt, người khỏe khoắn suốt cả tháng trời.

Trứng Công : Trứng công rất khó lấy vì chim công thay nhau canh trứng, chống cự đến cùng để bảo vệ trứng, và khi biết mình không giữ được trứng thì chim công làm vở cả ổ trứng. Người ta phải huấn luyện khỉ để đi ăn cắp trứng công.

Tinh Tượng : Yến nấu với nhân sâm và đường Cao Ly rồi nhồi với bột Kiết Châu, nặn thành hình những con voi nhỏ, bỏ vào lò nung chín, xong khoét trên lưng voi một lổ nhỏ vừa đủ nhét một bong bóng cá đã ngâm thuốc bắc phơi khô rồi đem chưng. Khi ăn thực khách dùng một cái kim bằng vàng chọc thủng cho nước chảy ra chén bạc mà uống…

Ngoài ra còn nhiều món cầu kỳ khác như óc khỉ, heo sữa Phuc Châu v…v…Mặc dầu vậy nhưng Trung Hoa không có món “Cháo trân châu, mắm mắt phượng” như ở nước ta mà quí vị sẽ được thưởng thức sau đây.

Vào thời nhà Nguyễn có một tục lệ khi Đông Cung Thái Tử (1) đúng 18 tuổi thì triều đình tổ chức một cuộc đi săn cho Thái tử, căn cứ vào con thú đầu tiên mà Thái tử săn được để tiên đoán thân thế và sư nghiệp của Thái tử sau này. Nếu săn được một con heo rừng hay một con hổ thi Thái tử có thể làm nên việc lớn…có hy vọng được nối ngôi cha trị vì thiên hạ, trái lại nếu là thỏ hay nai thì ắt hẵn không làm nên trò trống gì, và khó được kế nghiêp vua cha.

Trước một ngày Đông Cung Thái Tử đúng 18 tuổi Đức vua và Hoàng hậu truyền lệnh cho các quan văn võ trong triều mở cuộc đi săn. Nhà vua đặt nhiều hy vọng vào đứa con này. Ngày kế tiếp, ngồi trên con bạch mã Thái tử trông thật oai vệ trong bộ y phục đi săn bó sát, vai mang cung tên, đầu đội nón có song sắt bảo vệ…Sau khi cúi đầu thi lễ Đức vua và Hoàng hậu, Thái tử đã được một đoàn kỵ mã hộ tống ra tận bìa rừng.

Lần đầu tiên, một mình, một ngựa đi vào rừng, Thái tử cảm thấy tự do, thoải mái, không bị ai theo bảo vệ quấy rầy…Càng đi sâu vào rừng, Thái tử càng thấy rừng đầy quyến rủ, tiếng suối reo, tiếng chim hót, Thái tử thích thú vô cùng đến nỗi quên luôn cả việc đi săn.

Trời bắt đầu tối, Thái tử mới tìm lối về nhưng càng đi càng lạc. Loanh quanh mãi trong rừng rậm mà vẫn chưa tìm được lối ra, Thái tử bắt đầu cảm thấy sợ…Trời đã tối hẵn, Thái tử chợt trông thấy một đóm lửa từ xa nên nghỉ rằng chắc hẵn có người ở bèn cho ngựa đi về hướng đó. Đến trước một cái chòi tranh với ngọn đèn dầu leo lét, Thái tử xuống ngựa đi thẳng vào lên tiếng hỏi :

– Có ai trong nhà không ?

Một bà lão ốm yếu, tóc bạc phơ từ sau căn chòi đi lên, ngạc nhiên khi thấy một thanh niên tuấn tú trong bộ y phục đi săn với kiếm cung đang ngồi bệt trên đống rơm giữa nhà với vẻ mặt bơ phờ mệt mỏi.

Thái tử lên tiếng hỏi :

– Nhà ngươi ở đây có một mình thôi sao ?

Thấy trang phục và cách xưng hô bà lão cũng đoán ra rằng thanh niên này chắc hẵn là một quan chức lớn trong triều đình nên lể phép trả lời :

– Dạ thưa…tôi ở đây với đứa cháu gái, nó ở ngoài rừng sắp về đến.

– Ta đói bụng quá, có gì cho ta ăn không ?

– Dạ thưa….

Bà lão không trả lời tiếp, trong lòng lo lắng chẳng biết tính sao vì không còn thức ăn gì hết đã hai hôm rồi, ngay lúc đó cô cháu trở về, được bà kể lại sự việc cho nghe… Không biềt hai bà cháu bàn tính xoay xở thế nào mà nửa giờ sau cô cháu bưng lên cho Thái tử một tô cháo và một chén mắm…Thái tử đang nằm trên đống rơm ngồi bật dậy nhìn cô cháu gái với hai bàn tay trắng nhỏ nhắn đang bưng một tô cháo bốc khói dâng lên và nói :

– Xin mời Ngài dùng.

Thái tử nhận lấy bát cháo nóng từ tay người đẹp ăn một cách ngon lành…Bà lão và cô cháu gái đứng nhìn Thái tử ăn, quan sát thái độ của Thái tử mà lòng bất an vô cùng… Ăn hết tô cháo, Thái tử đòi thêm một tô nữa… trong lòng nghĩ thầm, không hiểu món này là món gì mà ngon quá. Ở trong cung ta đã dược mẫu hậu cho ăn biết bao nhiêu món ngon vật lạ, cao lương mỹ vị nhưng chưa có món nào ngon như vậy, ta sẽ hỏi bà lão tên món ăn này để trình tấu với mẫu hậu mới được.

Sau khi ăn xong hai tô cháo, Thái tử cảm thấy người khoan khoái, dễ chịu bèn nói với bà lão:

– Ta là Thái tử đi săn bị lạc may mà gặp được nhà của nhà ngươi và đã cho ta ăn một món ngon như vậy. Có lẽ nhà ngươi biết ta là ai nên mới đem thức ăn hiếm quí ra thiết đãi ta, vậy món đó là món gì ?

Bà lão nghĩ nếu nói thật thì mang tội khi quân nên nhanh trí trả lời ;

– Thưa đó là “cháo trân châu mắm mắt phượng”

Thái tử lẩm bẩm vài lần tên món ăn, cố nhớ để trình tấu lại cho mẫu hậu khi trở về hoàng cung.

Sau một đêm ngủ say sưa trên đống rơm giữa chòi tranh, Thái tử thức dậy lúc trời vừa sáng, ngỏ ý nhờ cô cháu gái của bà lão đưa ra bìa rừng và cũng không quên hỏi tên cô ta. Vừa đi được một quảng đường thì gặp ngay quân lính của triều đình tủa ra đi tìm Thái tử. Đức vua và Hoàng hậu vô cùng thất vọng nhưng không tỏ một thái độ gì khi thấy con mình trở về tay không. Người con mà cả hai người đều đặt hết hy vọng có thể nối nghiệp vua cha trị vì thiên hạ sau này.

Mấy ngày sau Thái tử biếng ăn, suốt ngày thơ thẩn trong cung, bỏ bê việc văn ôn, võ luyện…Hoàng hậu cho ngự y đến bắt mạch, ngự y trình tấu là Thái tử không bị bệnh gì hết, có lẽ Thái tử bị “trầm cảm” nên mới như vậy. Hoàng hậu truyền gọi Thái tử đến rồi bảo :

– Ta không hiểu sao từ khi con đi săn trở về con không ăn uống gì cả mà có vẻ suy tư? Hãy nói cho ta biết chuyện gì, vì sao ?

Thái tử thưa rằng :

– Con biết mẫu hậu thương con nhiều lắm, cho con ăn những món ngon vật lạ nhưng có một món thật đặc biệt mà mẫu hậu chưa bao giờ cho con ăn cả. Có món gì ngon mà ta không cho con ăn đâu,

Hoàng hậu nói :

– Từ nem Công, chả Phụng đến những thứ cao lương mỹ vị không thiếu món gì, vậy con cho ta biết món gì mà ta chưa cho con ăn ?

– Dạ thưa, đó là “cháo trân châu, mắm mắt phượng”

Hoàng hậu hỏi lại với sự nghi ngờ :

– Cháo trân châu mắm mắt phượng ? Con có nghe nhầm chăng ?

– Thưa đúng đó mẫu hậu, con đã lập đi lập lai nhiều lần tên món ăn đó cho nên không thể nhầm được

– Thôi được rồi, ta sẽ ra lệnh cho đầu bếp thử nấu cho con ăn.

Hoàng hậu vừa trả lời vừa ngẫm nghĩ trân châu thì làm sao mà nấu thành cháo được, đó chỉ là một loại đá vôi dưới lòng đất lâu ngày kết tinh lại mà thành, còn mắm mắt phượng thì ngay trong cung cũng chỉ được vài con làm gì ngoài dân gian có nhiều để lấy mắt làm mắm. Tuy vậy Hoàng hậu vẫn truyền lệnh cho đầu bếp vào kho lấy trân châu nấu cháo và ra vườn thượng uyển bắt phượng lấy mắt làm mắm. Tên đầu bến nghe xong liền quỳ sập đầu xuống mà thưa :

– Muôn tâu Hoàng hậu, xin giết hạ thần đi, hạ thần tự xét mình không thể làm được việc nầy.

– Ta biết, Hoàng hậu nói, nhưng nhà ngươi cứ việc làm theo lệnh ta có thể cả ta và nhà ngươi chưa biết những phản ứng hóa học khi bỏ thêm một vài gia vị hay hóa chất nào đó làm cho trân châu mềm chăng ?

Tên đầu bếp đành vâng lệnh vào kho lấy trân châu đi nấu cháo trong hai ngày liền nhưng trân châu vẫn là trân châu, mặc dầu đã thử bỏ thêm nhiều hóa chất và gia vị khác nhau. Trong khi đó sức khỏe của Thái tử càng ngày càng suy sụp, suốt ngày chỉ mơ tưởng đến bát cháo do hai bàn tay xinh xắn của cô Ché dâng lên cho mình ở trong rừng. Hoàng hậu ái ngại và lo lắng cho sức khỏe của con bèn triệu quân sư đến để vấn kế. Một quân sư ngỏ ý mở một cuộc thi để chọn vợ cho thái tử với điều kiện ai nấu được món cháo trân châu mắm mắt phượng mà thái tử hài lòng thì đươc chọn làm Hoàng tức (2)

Hoàng hậu và các quân sư đều đồng ý. Chiếu thị được viết ra và dán khắp nơi. Thời hạn thi là 2 tháng kẻ từ ngày ra chiếu thị…

Những tiểu thư của các quan trong triều đến tuổi cập kê đều háo hức ghi danh dự thi, ước mong được làm vợ của thái tử. Các cô nghĩ rằng các món ăn đều có trong thực đơn cho nên phần đông đi qua Tàu để tìm kiếm, còn một số qua các nước Tây phương mong sao sẽ tìm được món đó để học cách nấu cho ngày dự thi sắp đến. Trong số thí sinh dự thi có tiểu thư của quan Thượng Thư bộ Hình, ông ta biết rõ việc Thái tử đi săn trở về, và khi biết tin triều đình ra điều lệ trong chiếu thị chọn vợ cho Thái tử ông ta đã âm thầm cho lính vào tận trong rừng tìm đến căn chòi của hai bà cháu cật vấn về món ăn mà họ đã nấu cho Thái tử ăn. Sau khi đã khai hết cách thức nấu món cháo trân châu mắm mắt phượng, hai bà cháu lền bỏ trốn sợ mang tội khi quân.

Gần đến ngày dự thi, quan Thượng Thư bộ Hình mới nói với con gái :

– Con à ! cha đã cho lính vào tận rừng tìm hỏi bà lão cách thức nấu cháo trân châu mắm mắt phượng, cha sẽ cho con biết để nấu, và thế nào con cũng là vợ thái tử.

Tiểu thư của quan Thượng Thư bộ Hình chưa thi nhưng đã có “bài tủ” trong tay khiến cho ông ta tin tưởng rằng địa vị của mình sẽ được củng cố khi làm thông gia với Đức vua và Hoàng hậu.

Ngày dự thi đã tới, Đức vua, Hoàng hậu và các quan trong triều đều có mặt đông đủ. tại Đại Sảnh Đường. Dụng cụ nấu ăn và một giàn bếp lò được xếp thành hàng trước mặt các thí sinh. Số thí sinh ghi danh trước đây khá đông nhưng bây giờ chi còn lại có 7 người, có lẽ các cô không tìm ra món ăn cầu kỳ đó nên đã tự ý rút lui ?

Sau hai hồi trống, Hoàng hậu ban hiểu thị và các thi sinh bắt đầu trổ tài. Khi cô thứ nhất dâng cháo và mắm lên, Thái tử vừa nếm xong đã gạt ra và nói :

– Không phải thứ này…

Đến cô thứ hai cũng bị chê không giống mùi vị mà thái tử đã được ăn trong lần đi săn trước đây… Thấy hai thí sinh vừa rồi đều bị loại, cô thứ ba và thứ tư đồng loạt tiến lên trước mặt Thái tử và nói:

– Thưa Thái tử làm gì có món ăn đó vì chúng tôi đã đi chu du khắp nơi nhưng không tìm ra món cháo trân châu mắm mắt phượng trong thực đơn của các nước nên chúng tôi không dám dự thi và xin rút lui.

– Có chứ ! tiểu thư của quan Thượng Thư bộ Hình lớn tiếng trả lời, đồng thời tiến lên phía trước, tay bưng tô cháo, tay bưng chén mắm dâng lên Thái tử với lòng tự tin vì đã có “bài tủ”. Ngồi ở hàng ghế sau Đức vua và Hoàng hậu, quan Thượng Thư bộ Hình mỉm cười đắc ý, nghĩ rằng con gái mình thế nào cũng được làm vợ thái tử.

Thái tử im lặng gật gù khi nếm qua món cháo, nhưng khi nếm qua món mắm thì Thái tử gạt đổ ngay rồi nói một cách giận dữ :

– Thức ăn gì mà hôi quá vậy ?

Tiểu thư của quan Thượng Thư bộ Hình tái mặt, trong khi ông ta vô cùng kinh ngạc, ông nghi bà lão đã không nói thật về món mắm, làm tiêu tan hy vọng của hai cha con. Ông sẽ cho lính bắt bà lão về để trị tội..

Thí sinh thứ sáu là tiểu thư của thầy dạy võ cho Thái tử, có chút máu võ biền như cha, tiến đến trước mặt Thái tử chỉ tay mà nói :

-Miếng ăn là miếng tồi tàn, sở thích của Thái tử đã làm khổ chị em chúng tôi, kẻ đi Tàu người đi Tây để tìm cho ra món ăn đó nhưng làm gì có món cháo trân châu mắm mắt phượng trên cõi đời này…

Thấy thái độ hổn láo, vô lễ của cô ta Thái tử giận dữ quát :

– Quân đâu tống cô ta vào ngục cho ta.

Hoàng hậu nghe vậy bèn đưa tay can gián vì bà cũng biết làm gì có món này, mở cuộc thi chỉ để cầu may thôi.

Bây giờ chỉ còn thí sinh cuối cùng, cô ta là con gái của vị Thái Sư, văn hay chữ tốt nét mặt kiều diễm, ăn nói nhỏ nhẹ…Khi nghe Thái tử nói tên món ăn cô ta đã nghĩ ngay rằng có thể Thái tử nghe nhầm hay hiểu sai nghĩa của nó. Kiến thức của Thái tử không là bao, tuy nhiên khi được làm vợ của chàng rồi thì ta sẽ dạy thêm cho chàng sau. Cô ta khoan thai tiến đến trước mặt Đức vua và Hoàng hậu cúi đầu bái tạ rồi nói :

– Muôn tâu Hoàng thượng và Hoàng hậu thần thiếp nghĩ rằng có lẽ Thái tử đã nghe nhầm, vì trước đây nhà thơ cổ nổi tiếng Trung Hoa là Tô Đông Pha (1037-1101) thời nhà Tống khi đọc hai câu thơ :

Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm

Tạm dịch :

Trăng sáng hót trên đỉnh núi.
Chó vàng nằm trong tâm hoa

Ông ta thấy không vừa ý nên đã sửa 2 chữ cuối cho thơ có ý nghĩa hơn

Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm

Tạm dịch :

Trăng sáng chiếu trên đỉnh núi
Chó vàng nằm dưới bóng hoa

Sau khi sửa xong ông lấy làm đắc ý lắm. Trăng sáng chiếu trên đỉnh núi Chó vàng nằm dưới bóng hoa là chỉnh lắm rồi…Tô Đông Pha đâu có biết 2 câu thơ mà ông vừa sửa là của Vương An Thạch, một Tể tướng văn võ song toàn, đầy quyền uy. Khi biết Tô Đông Pha sửa thơ mình, An Vương Thạch rất thâm, không nói gì mà chuyễn Tô Đông Pha từ Kinh đô ra miền cực Nam rồi lại trở về Kinh đô. Suốt thời gian ở vùng quê, miền núi, và cũng nhờ vậy, trong một đêm trăng dạo chơi ở một ngôi làng dưới chân núi, khi nghe chim hót và khi thấy trẻ con dùng một que tăm để khươi những con sâu nhỏ trong những bông hoa, hỏi ra nhà thơ mới biết loại sâu đó có tên là “hoàng khuyển” còn “minh nguyệt” là tên một loài chim đêm ở miền núi. Tô Đông Pha mới nhận ra thâm ý của An Vương Thạch khi chuyển ông ra vùng quê này để cho ông biết mình đã sai khi sửa hai chữ cuối của hai câu thơ của ông ta.

Cô gái nói tiếp :

– Muôn tâu Hoàng thượng và Hoàng hậu, theo thần thiếp suy đoán thì có thể món mà thái tử ăn là cháo chân trâu, mắm mắt vượn” Ngoài dân giả làm gì có trân châu để nấu cháo, và chim phượng để lấy mắt làm mắm. Chân trâu có lý hơn vì ở miền quê mỗi khi giết trâu bò người ta thường lấy chân phơi khô rồi hong trên giàn bếp để đến mùa Đông không có lương thực họ đem ra cạo thật sạch ngâm nước cho nở ra để nấu cháo.

Nghe nói vậy, thái tử đứng phắt dậy, chỉ mặt cô ta mà bảo :

– Ta nghe không nhầm đâu.

Hoàng hậu liền vẩy tay bảo Thái tử ngồi xuống vì nghĩ rằng cô ta nói có lý, có kiến thức, biết nhiều, hiểu rộng Hoàng hậu trong lòng thầm phục, mong những gì cô ta nói là đúng để chọn cô ta làm vợ thái tử.

Khi cô ta dâng cháo và mắm vừa nấu xong, Thái tử mới nếm có một thìa đã gạt ngay :

– Không phải ! không phải !…cháo mà ta đã ăn dẻo, thơm và ngon không hoi như bát cháo này

Đức vua, Hoàng hậu và tất cả các quan trong triều có mặt trong cuộc thi đều thất vọng vì cô ta là thí sinh cuối cùng cũng không nấu được món cháo mà thái tử mong muốn.

Người thất vọng và buồn nhất là Hoàng hậu, đứa con thương yêu duy nhất của bà đã không đạt được thành quả gì trong cuộc đi săn mà còn vướng phải sự trầm cảm, biếng ăn, suy nhược thấy rõ.

Khi Đức vua và Hoàng hậu sắp ngự giá hồi cung thì một lính hầu chạy vào sụp đầu trình tấu:

– Muôn tâu Thánh thượng và Hoàng hậu ngoài kia có một thiếu nữ xin vào dự thi nấu cháo cho Thái tử.

Thấy chuyện lạ Đức vua truyền lệnh cho vào. Một cô gái nhỏ nhắn, ăn mặc quê mùa được dẫn đến trước mặt Đức vua và Hoàng hậu. Khi thấy mặt cô gái Thái tử bật đứng dậy, mặt mày tươi tỉnh hẵn lên .

– Cô Ché! Thái tử la lên rồi quay qua mẫu hậu thưa rằng :

– Chính cô này đã nấu cháo trân châu mắm mắt phượng cho con ăn.

Cô Ché, người cháu gái của bà lão trong rừng cúi đầu nói :

– Thái tử muốn ăn cháo đó thì xin phép phụ hoàng và mẫu hậu rồi đi theo thiếp.

– Mấy tháng nay ta mong một bát cháo như vậy bây giờ hãy dẫn ta đi ngay, Thái tử hối thúc.

Sau khi được phụ hoàng và mẫu hậu cho phép Thái tử theo cô Ché vào rừng trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người.

Loanh quanh gần hai giờ trong rừng, khi đến được túp lều tranh thì Thái tử đã mệt lã và đói bèn nằm ngay xuống đống rơm giữa nhà mà nghỉ, còn cô Ché xuống bếp nấu cháo trân châu mắm mắt phượng cho Thái tử.

Cháo trân châu chỉ là cháo nấu bằng hột bắp còn mắm mắt phượng được làm bằng con sò, con hến. Thái tử cảm thấy ngon vì đói. Sở dĩ tiểu thư của quan Thượng Thư bộ Hình biết “bài tủ” mà vẫn không thành công chỉ vì nấu ăn là một nghệ thuật phải học, phải thực hành. Tiểu thư khuê các làm gì biết khử tỏi, phi hành hay thêm những gia vị khác để khử mùi và làm cho mắm được thơm ngon.

Thái tử đã tìm thấy hạnh phúc đơn sơ cho chính mình và đó cũng là lần đầu tiên một thiếu nữ dân giả được làm vợ của một Thái tử dưới triều nhà Nguyễn.

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

 

(1) Đông Cung Thái Tử : Hoàng tử được chọn để kế vị vua cha
(2) Hoàng Tức : Dâu của vua

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s