KIM VÂN KIỀU truyện (Đàm Quang Hưng chuyển ngữ): Giới thiệu

LỜI GIỚI THIỆU CỦA GIÁO SƯ ĐẶNG PHÙNG QUÂN

Đọc Kim Vân Kiều Truyện

Mỗi tác phẩm văn chương xuất hiện đều mang theo những ẩn ngữ. Truyện Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du có nhiều ẩn ngữ cần giải mã; những tranh luận về tu từ, về sự biến, về chữ nghĩa vẫn còn đó, dường như thiếu một lam bản để tỏ tường. Có lẽ vào thời đại của Nguyễn Du, sinh hoạt văn chương chỉ là một phần trong việc diễn tập dùi mài kinh sử chữ nghĩa, do đó những tục lệ của đời sau như bản quyền, tác quyền không coi là quan trọng, như trong Truyện Kiều, tác giả chỉ viết:

Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh

Và không cần gióng lên là phóng tác ở nguồn nào. Điều đó thật tự nhiên trong một nền văn hoá cổ, chưa để ý đến những việc thương mại, tiếp thị, xuất bản, tác quyền v.v.. .

Ở trong một nền văn hoá lấy thơ văn là nền tảng, thi cử là cứu cánh, dường như kiến thức phổ cập, nên việc Nguyễn Du không cần phải giáo đầu, việc cứ để những người khác làm. Chẳng hạn trong tổng thuyết của vua Minh Mệnh viết:

Thánh Thán bất phùng, hàn yên tản mạn
(Người Tàu, tên Thánh Thán, không ưa cách Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều Truyện, viết lan man như nước lụt lan tràn, không chảy thành dòng.)

để nhắc đến Thánh Thán bình phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.

Và tổng từ của vua Tự Đức viết:

phần lô nhàn độc Thanh Tâm biên,
thị biên bắc nhân Thánh Thán chước,
dịch âm ngã quốc Nguyễn Tiên Điền
(Lúc rảnh rỗi đốt lò hương, đọc sách do Thanh Tâm viết
Sách ấy có kèm phê bình của người Tàu, tên Thánh Thán
Có người nước Ta chuyển sang Việt ngữ, là Nguyễn Tiên Điền)

đều để dẫn truyện Kim Vân Kiều nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân, và Thánh Thán luận bàn, nay Nguyễn Du diễn ra Quốc âm.

Thanh Tâm Tài Nhân viết ra tiểu thuyết vào thế kỷ 17, thời kỳ sáng tác tiểu thuyết được xem như phồn vinh cực thịnh, Thánh Thán (Kim Nhân Thụy) nổi tiếng là taỵ bình giá sâu sắc, cho nên ở thời đại Nguyễn Du, truyện Kiều hẳn giới đọc sách ai cũng biết, việc diễn ra Quốc âm làm theo thể truyện thơ riêng của văn chương Việt Nam là thể thơ lục bát đã phổ biến rộng khắp, từ nơi cung đình, đến chốn văn gia, lại đi sâu vào đại chúng, như những bài tựa tác phẩm Quốc âm này ở ngay thế kỷ 19 ghi nhận. Tuy nhiên điều đáng chú ý là tác phẩm Quốc âm càng nổi tiếng, tên tuổi Nguyễn Du đã lừng danh trong văn học thế giới, song tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân dường như đi vào quên lãng. Chẳng hạn, lấy một vài sách tiêu biểu, như Trung Quốc Tiểu Thuyết Sử Lược của Lỗ Tấn, mấy chương viết về tiểu thuyết thời Minh không hề nhắc đến tác giả hay tác phẩm Kim Vân Kiều truyện này, bộ Trung Quốc Văn học sử thông lãm do nhiều học giả hiện đại trong phần về tiểu thuyết thời Minh có nói đến Kim Bình Mai, đến Tỉnh thế nhân duyên truyện còn nhiều tiểu thuyết khác xem như nghệ thuật tầm thường nên không nói đến, ngay sách viết bằng Anh ngữ như An Introduction to Chinese Literature của Liu Wu-Chi (Liễu Vô Kỵ) để giới thiệu ra thế giới cũng không đá động đến tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân.

Nay Kim Vân Kiều truyện được dịch giả Đàm Quang Hưng hoàn tất việc chuyển ngữ, đem ra xuất bản thật hữu ích cho người đọc cũng như cho người phê bình.

Sự khác biệt giữa tiểu thuyết và thơ không chỉ ở thể loại, ngày nay với sự phát triển của thi pháp/sáng tạo học về văn xuôi cũng như về thơ xây dựng trên cơ sở những khoa ký hiệu học, văn phong học, ngữ nghĩa học có thể giúp cho việc đối chiếu tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân với truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du về nhiều mặt.

Trong Thi pháp học cổ điển phương đông, như Vân đài loại ngữ, quyển 5 Văn nghệ loại, Quế đường Lê Quí Đôn ở thế kỷ 18 đã nói đến một trong hai nguyên tắc nhị phế/phải bỏ là: tuy dục phê từ thượng ý nhi điển lệ bất đắc di nghĩa là bỏ lời lấy ý nhưng không được bỏ cái đẹp và cũng nói đến tình, cảnh, sự trong phép làm thơ, ba điều đó có thể áp dụng vào việc đọc truyện thơ Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du.

Bàn về Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, người cùng thời với cụ Nguyễn, khi phân chia sách vở văn chương phong phú như rừng làm những loại như hiến chương, kinh sử, thi văn, truyện ký; như vậy Đoạn trường tân thanh có thể kể vào loại truyện ký vì là một thực lục. Song là một thực lục bằng thơ, nghĩa là đọc dưới nguyên tắc thi pháp của thơ, khác với đọc tác phẩm văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân. Đứng từ quan điểm thi pháp hiện đại, tôi muốn dẫn một cái nhìn của người đời nay như Marcelin Pleynet khi hỏi: Thơ phải có mục đích như thế nào? và trả lời là: thơ phải có mục đích như một truyện kể song luôn luôn khác với hoạt động thực tiễn, có thể là tiêu chuẩn để đối chiếu việc Nguyễn Du viết về hành trạng/cuộc đời Kiều bằng thơ khác với Thanh Tâm Tài Nhân thuyết thoại qua văn xuôi.

Tản văn có thi pháp của tản văn/poétique de la prose cho nên không thể so sánh nguyên tắc, nghệ thuật, tình tiết, câu chuyện Kiều trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân với truyện ký bằng thơ của Nguyễn Du. Cảm nghĩ về mỗi tác phẩm là thẩm quyền của người đọc.

Với quyển sách Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân trước mặt, người ta có thể giải toả những thắc mắc, chẳng hạn trong tác phẩm thơ của Nguyễn Du, sự biến xẩy đến cho gia đình Vương ông tóm lược trong hai câu:

Hỏi ra sau mới biết rằng
Phải tên xung xuất là thằng bán tơ

Xem trong hồi 4 tiểu thuyết kể qua tản văn rõ ràng là: Kiều nũng nịu hỏi:

“Cha mẹ làm chi ở bên ngoại mà giờ này mới về?” Vương ông đáp: “Vì cha gặp chuyện chẳng lành. Dượng con cho hai khách buôn tơ thuê phòng ở trong nhà. Không biết họ buôn tơ của ai mà khi họ đem tơ ra chợ bán thì thấy một người tới nhận là tơ của mình bị mất cắp, rồi đi cáo quan. Hai khách ở thuê khai với quan rằng họ buôn tơ của dượng con, rồi họ vu oan cho dượng con tội oa trữ của trộm cắp. Dượng con bị bắt. Dì con chạy ngược chạy xuôi dò hỏi xem tại sao hai khách ở thuê lại vu oan cho chồng mình thì mới biết chúng thuộc Đảng Trộm Ngựa, được quan trên nhận hối lộ, dung túng cho mưu sinh bằng hai nghề Trộm Ngựa và Vu Cáo Lương Dân. Cha có ngồi uống rượu với chúng mấy bữa nên chỉ sợ chúng biết cha với dượng con là anh em cột chèo, rồi chúng cũng sẽ vu oan cho cha tội oa trữ của trộm cắp!”

Vương ông vừa dứt lời thì bỗng có một đội sai nha chừng bảy tám tên, xông thằng vào nhà, chẳng nói chằng rằng, dùng dây trói Vương ông với Quan, treo ngược lên xà nhà. Tiếng hò lục soát tìm tang vật lừng vang khắp xóm. (Xem: bản dịch sách này).

Vương Thuý Vân là một tác nhân trong truyện Kiều, vì nếu không có cô em trong gia đình Vương ông, thì không thể có tái hồi Kim Trọng, có happy ending trong tiểu thuyết. Dường như trong phần nói về tiểu thuyết thế thái nhân tình thời nhà Minh, nói đến trai tài gái sắc gặp nhau rồi yêu nhau, trải qua bao gian khổ lại đoàn viên (có vẻ “cải lương”) học giả Phạm Ninh như ám chỉ những tiểu thuyết như Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là tầm thường về nghệ thuật [trong Trung quốc văn học sử thông lãm nói đến ở trên]. Song quả thực trong tiểu thuyết, thuyết thoại là bộ phận thiết yếu, tác giả tả một Thuý Vân năng hoạt linh động:

Vân tươi đẹp óng ả, mềm mại, hiền lành, ít nói.

Cả ba chị em cùng giỏi văn thơ.

Kiều rất thích âm nhạc, say mê hồ cầm. Vân thường khuyên chị: “Âm nhạc không phải là việc của con gái, người ngoài nghe chuyện chị mê âm nhạc, họ sẽ cười cho!

Đoạn tác giả nói về chuyện Kim Trọng gặp gỡ hai nàng:

Kim thấy Kiều mày nhỏ mà dài, ánh mắt lấp lánh như liếc mắt đưa tình, dung như trăng thu, sắc tựa hoa đào, khoan thai văn nhã, chim sa cá lặn! Còn Vân thì tinh thần phẳng lặng, dung mạo đoan trang, phong thái cá biệt, vượt trên thường phàm. Bị sắc đẹp đoạt hồn, Kim tự nhủ: Cái tương tư này sẽ hại ta đây! Rồi lại tự thề: Nếu ta không xin cưới được cả hai nàng thì suốt đời, ta sẽ không lấy vợ!

Còn về phía hai nàng:

Tới nhà thì trời vừa tối. Kiều lên phòng mình ở trên lầu. Lát sau, thấy Vân đẩy cửa vào chơi, Kiều nói: “Anh chàng nho sinh họ Kim ấy có cái thú thật ngược đời! Làm sao hiểu được cái thú thích đi thăm mộ nàng Lưu Đạm Tiên của ảnh?” Vân đáp: “Em nghĩ không phải là ảnh thích đi thăm mộ Đạm Tiên đâu, mà là ảnh thích đi xem mặt hai chị em mình!” (hồi 1)

Đến việc Thuý Kiều nhờ em nối hộ duyên mình:

…Vân hỏi: “Đang nói chuyện với em, sao chị lại bỏ ngang? Nhìn mặt chị, em thấy chị ngậm lo chứa hận, dường như ngoài cái ưu sầu khổ não do việc bán mình, chị còn có tâm sự khác. Đúng thế không?” Kiều đáp:”Đúng! Chị vẫn muốn nói với em, nhưng khó bề hé răng. Tuy nhiên, nếu không nói thì lại e phụ lòng một người thuộc giống chung tình! Vân hỏi: “Có phải người thuộc giống chung tình của chị là anh Kim Trọng không? Mới thoáng nhìn thấy ảnh có một lần mà sao chị đã biết là ảnh chung tình?”

… Vân hỏi: “Chị lạy em để làm gì? ” Kiều đáp: “Để nhờ em một việc!” Vân hỏi:”Việc gì?” Kiều đáp:”Vì anh Kim vừa mới đi Liêu Dương nên chị không thể nhờ ảnh cứu cha với em mình được! Mà việc ấy thì phải làm ngay, chứ chẳng thể chần chờ! Vì thế, chị phải tỏ bày cùng em tất cả nỗi lòng của chị, để em đền đáp ân tình cho anh Kim giùm chị. Chị dầu thịt nát xương mòn, ngậm cười chin suối, vẫn còn thơm lây! ” (hồi 4)

Đến việc Thuý Vân thay chị lấy Kim Trọng:

Một hôm rảnh việc, Kim bảo phu nhân Thuý Vân thuật lại cho mình nghe về chuyện cũ, khi gia đình hoạ vu cáo. Thuật xong, Vân nói: “Liên tiếp mấy đêm nay, thiếp mộng thấy chị Kiểu! Vì thế thiếp nghĩ có thể nơi đây sẽ giúp ta tìm ra tin tức chị!” Đột nhiên Kim tỉnh ngộ mà nói : “Nếu phu nhân không nói thì ta bỏ lỡ mất cơ hội! Lâm Truy với Lâm Thanh chỉ khác nhau một chữ, có thể là vì nghe lầm! Ngày mai, ta sẽ tra hỏi nha dịch ở huyện này xem ở đây có ai tên là Mã Giám Sinh không?” Vân khen:”Lang quân làm thế là đúng” (hồi 28).

Tới chuyện Vương Thuý Vân trả chồng cho chị:

Sau một tuần rượu, Vân đứng dậy nói: “Thưa cha mẹ, con có một việc muốn trình!” Vương ông hỏi:”Con có việc chi thì cứ nói!” Vân nói:”Thưa cha mẹ! Một là toàn thể gia đình ta đang ngồi trong ngôi nhà tạm thuê để cư ngụ trong thời gian hỏi thăm tin tức chị Kiều con. Nay Kim lang với em con đã có văn thư bổ nhậm trong túi, cùng được lệnh phải đi nhậm chức vào một ngày sắp tới, nên chúng con chẳng thể ở lại đây lâu. Hai là Kim lang với em con phải đi nhậm chức ở hai phương nam bắc khác nhau nên gia đình ta chẳng thể cùng hiện diện ở một nơi khác như thế này. Thế mà bây giờ; gia đình ta cần phải giải quyết ngay một việc với sự hiện diện của tất cả mọi người trong gia đình, nên con nghĩ gia đình ta phải giải quyết việc ấy ngay trong đêm nay!” Vương bà hỏi: “Ý con muốn nói việc chi?” Vân đáp: “Thưa cha me, đó là việc chị Kiều con phải phối hợp với Kim lang. Vì chữ hiếu, chị đã bán mình cứu cha nên chị đã nhờ con thay chị mà phối hợp với Kim lang cho vẹn lời thề. Vì thương chị, con đã nhận lời. Nay chị đã may mắn thoát chết, thì lời thề cũ vẫn còn nguyên! Nếu đêm nay chị không thực hiện lời thề ấy thì đợi đến bao giờ mới lại có sự hiện diện đông đủ của mọi người trong gia đình ta như thế này?” (hồi 30).

Trong thi pháp sáng tạo của tản văn, ký hiệu học là một thành phần sử dụng cho thuyết thoại, như trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân sử dụng những tên riêng mang ý nghĩa hàm ngụ nhân cách như Mã Bất Tiến (học dốt), Mã Quy (mở ổ gái để cho vợ con làm nha đầu – chú thích của dịch giả) để chỉ con người Mã Giám Sinh, Thúc Thủ nghe như sự bó tay bất lực của Thúc Kỳ Tâm…

Dầu sao Kim Vân Kiều truyện vẫn nằm trong hệ tiểu thuyết cổ điển của Trung hoa, nên cũng giống như những Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai, chỗ nào cũng có thơ phú. Chẳng hạn, trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Kiều mộng thấy Đạm Tiên nói cho hay có tên trong sổ đoạn trường và ra mười đề thơ:

Vâng trình hội chủ xem tường
Mà sao trong sổ đoạn trường có tên
Âu đành quả kiếp nhân duyên
Cùng người một hội một thuyền đâu xa
Này mười bài mới mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời
Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm

Song Nguyễn Du không nói mười đề thơ đó và cũng không viết ra mười bài thơ đó như trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân; mười đề thơ đó là: Tích đa tài, Lân bạc mệnh, Bi kỳ lộ, Ức cố nhân, Niệm nô kiều, Ai thanh xuân, Ta kiển ngộ, Khổ linh lạc, Mộng cố viên, Khốc tương tư và còn viết ra nguyên mười bài thơ hồi văn Kiều làm (xem hồi 2)

Người đọc có thể liên tưởng đến mấy lý do: trong truyện thơ Quốc âm theo thể lục bát, đưa ra mười bài thơ khác luật, lại bằng Hán văn thật không ổn; kể cả lấy lại nguyên mười bài hồi văn trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân cũng không ổn, hoặc Nguyễn Du chế tác ra mười bài khác cũng không ổn, chẳng lẽ nàng Kiều trong cùng không-thời gian lại có mười bài thơ khác nhau.

Sự khác biệt giữa tản văn tiểu thuyết và truyện thơ có thể biểu hiện trong cảnh Kiều ra ở lầu Ngưng Bích; trong tác phẩm của Nguyễn Du là những vần thơ lai láng tuyệt vời:

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bể bát ngát xa trông
Cát vàng con nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu

Trong tiểu thuyết là cảnh hiện thực: Lầu này có mặt tây trông về Kỳ sơn, nơi có móc trắng đọng trên cỏ kiêm cỏ gia, mặt nam trông về Kim Lăng, nơi có rồng hổ của tiên nuôi, mặt đông trông ra bãi dâu xanh trên hòn đảo nhỏ, mặt bắc trông vể kinh đô, trong mây có hình cổng ngự thành (xem hồi 10).

Cảnh Kiều báo oán, trong truyện thơ thật đơn sơ nhưng súc tích:

Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kỉnh phách rời
Cho hay muôn sự tại trời
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta

Trong tiểu thuyết ở hồi 22 tả cảnh hành hình xử phạt đầy vẻ bạo động khủng cụ. Đối chiếu hai tác phẩm cùng diễn tả một cảnh, có thể suy ra một số những đặc tính: ở tản văn thuyết thoại, hình thái truyện kể có thể bành trướng và xoắn vẹo để mở rộng những tác động của nhân vật, có thể tóm lược; ở thơ không thể tóm lược hơn, thiên về cảm tính hơn là hiện thực. Tính khác biệt ấy chỉ ra tại sao có thể nói Nguyễn Du sáng tạo ra một truyện Kiều, cũng những sự biến ấy, nhưng không là sao bản của tiểu thuyết.

Dịch giả Kim Vân Kiều truyện là một giáo sư toán, việc ông làm văn chương không có gì phải lạ, dường như tinh thần toán học thiên về những hình thái trừu tượng cũng giống như tinh thần văn chương thiên về những hình thái giả tưởng, mà giả tưởng và trừu tượng là hai mặt bổ sung trong sáng tạo.

Trong thế giới văn học hiện đại, có những tác phẩm tưởng như rơi vào quên lãng được phục hồi lại trong những thời đại về sau, chẳng hạn như Manuscrit trouvé à Saragosse của Jean Potocki, Locus Solus của Raymond Roussel. Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân có thể kể như được phục hồi trong tinh thần này qua công trình dịch thuật của giáo sư Đàm Quang Hưng.

Đặng Phùng Quân

Advertisements

2 thoughts on “KIM VÂN KIỀU truyện (Đàm Quang Hưng chuyển ngữ): Giới thiệu

  1. Kính gởi BBT,
    Cháu thuộc thế hệ 9x, nghe các bậc trưởng thượng trong gia đình nói nhiều về truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Cháu có đọc nhưng thú thật cháu không hiểu lắm vì là truyện thơ. Nay được biết cố giáo sư Đàm Quang Hưng đã dịch từ bản chính của Thanh Tâm Tài Nhân viết bằng văn xuôi, cháu nghĩ rằng rất dễ hiểu. Vậy nếu có thể thì xin BBT post lên đây trọn bộ quyển chuyển ngữ ấy được không ạ?
    Cháu xin cảm tạ.
    Kính,
    Bảo Hoàng

    • Cám ơn cháu Hoàng đã theo dõi trang mạng của chúng tôi. Rất tiếc chúng tôi không thể đăng trọn bộ sách vì lý do copyright của NXB. Chúng tôi sẽ cố liên lạc với NXB để xin phép.

      Tạm thời chúng tôi sẽ đưa lên vài chương đã được đề cập trong bài Giới Thiệu trên đây của gs Đặng Phùng Quân .

      BBT/VHV

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s