TẢN MẠN BẠN CŨ NGÀY XƯA (Thái Lê)

TẢN MẠN BẠN CŨ NGÀY XƯA

1-

Vào trang mạng VHV đọc bài viết về anh Nguyễn Ngọc Trụ của Tù Cựu – XM520 tôi chợt nhớ về anh ấy. Trước đây, tôi cũng đã đọc một bài của Nguyễn Thiếu Nhẫn viết về anh Trụ. Nhớ ngày còn ở Trường, tôi ít tiếp xúc với Trụ, nhìn anh ấy lúc nào cũng nghiêm trang, mẫu mực, đúng là tác phong của một thẩm phán. Thời gian đi tù ở Trảng Lớn, Tây Ninh, tôi gặp Trụ vài lần trong khi đi lao động nhổ cọc sắt, lấy kẽm gai, rồi anh bị nhốt conex và chuyển trại …

Ở Trảng Lớn hơn một năm, tôi bị chuyển về Bù gia phúc, Phước Long ở chung trại với Phạm văn Trí, thỉnh thoảng đi lao đông gặp Trịnh Lang. Đến lúc sắp về thì được hội ngộ với Lâm vạn Triệt và Khiếu văn Quyết ở một nhóm gọi là “nhóm chuyên viên” gồm các bạn tù có bằng cấp chuyên môn: kiến trúc sư, kỷ sư, bác sĩ, cán sự, giáo viên… được cán bộ trại phổ biến là sẽ cho về phép một tháng, sau đó phải trở lại làm việc cho lâm trường của bộ đội sắp được thành lập ở vùng đất rừng do tù khai phá phát quang … Ba chúng tôi buổi tối thường tụ tập với nhau uống nước, Triệt thường lấy ra một lon guigoz tôm khô để nhâm nhi. Triệt kể: nhà Triệt có một tiêm vàng ở Chợ lớn, sau 30/4/75 ông thân Triệt thu gom vàng bạc đem về quê ở Bạc liêu, chôn sâu dưới đáy giếng trong vườn nhà, rất an toàn. Khi bộ đội chiếm đóng đánh tư bản mại sản vào kiểm kê nhà ông, chỉ còn ít tài sản, họ không tin, nên cử cán bộ vào ở trong nhà, vưà để chiếm nhà, vừa để theo dõi nhất cử, nhất động của mọi người trong gia đinh. Người cán bộ đó thuộc loại chuyên trách ác ôn nên ngày ngày rỉ tai, hăm dọa, vận động ông thân Triệt nên kê khai thật và giao nôp vàng cho nhà nước thì hai con trai ông đi tù cải tạo mới có hy vọng được tha. Hơn một năm bị giám sát chặt chẻ, bị tra tấn tâm lý như thế, ông không chịu nỗi nữa, nên “còn ăn, hết nhin” ông đành chỉ nơi chôn giấu, từ đó ông được thoải mái hơn chút ít, nhưng nhà thì vẫn bị chiếm, và hai con trai ông vẫn chưa thấy về.

Khiếu văn Quyết lúc nào rỗi rãnh cũng nghiền ngẫm mấy cuốn sách Toán tiêng Anh. Trong hoàn cảnh tù cải tạo phải lao động vất vả, thời gian còn lại rất ít, đáng lẽ phải dành để nghỉ ngơi thư giản thì Quyết lại chuyên tâm nghiên cứu học hành. Hay đó cũng là một cách thư giãn, tìm quên?

Một con mọt sách khác của Khoa Toán là Bùi Hùng, Lúc còn ở chung với tôi tại cư xá Quang Trung, không những đọc sách Toán, Hùng còn đọc sách về hóa học, công binh, để tìm cách chế tạo kíp nổ. Hùng lý luận: sau chiến tranh, bom min, đầu đan, chất nổ còn lại rất nhiều, nếu biết cách tháo gỡ được ngòi nổ và chế tạo được kíp nổ thì sẽ tận dụng đươc khối lượng thuốc nổ khổng lồ đó để khai phá. Sau khi đi tù về, nghe nói Hùng tự mày mò trong sách vở để học lái tàu và tìm phương hướng trên biển, rồi mua tàu, tự cầm lái, vượt biển thành công.

2-

Ngày cuối cùng ở trong trại, tôi đi lao đông phát quang rừng, công việc là đốn hạ mọi cây lớn nhỏ ngã ngổn ngang, chờ khô rồi đốt để lấy đât trồng trọt. tôi đang loay hoay chặt cây thì nhiều anh em chạy về phía tôi la lớn :”chạy mau”, tôi ngước nhìn, thấy một cây to đang ngã và anh em chạy tứ tán, cây ngã khá xa tôi nghĩ không nguy hiểm gì nên không chạy, ngay lập tức một đàn ong tấn công tôi xây xẩm mặt mày, tôi bẻ một cành lá vừa đuổi ong, vừa chạy, tôi chợt hiểu ra anh em chạy vì sợ ong, mắt tôi kém quá không thấy đàn ong. Khi những anh em chạy trước, nhóm được lửa, quay trở lại cứu, tôi là một trong hai ngượi bị ong đốt nặng nhất..may là ong mật, khi đốt để lại cái kim trên da, sau đó không bay được nữa và chết, nên không nguy hiểm đến tính mạng. Nghỉ ngơi một lát, tạm khỏe, anh đội trưởng cho mấy người bị ong đốt về trại trước, khi về gần đến trại, một đàn ong bay ngang qua, ngửi thấy mùi mật lại sà xuống đốt. Tuy lần này không bị đốt nhiều, nhưng thực sự làm tôi mất tinh thần, cứ sợ mùi mật vẫn còn, ngày nào chắc cũng bị ong đốt. Đến trại, anh em thương tình tỉ mỉ lấy từng mũi kim, lau sạch và xoa dầu cho nên cũng tạm ổn. Buổi tối, cán bộ trại gọi tôi lên hỏi thăm tình trạng ong đốt, rồi nói: “Anh về thu xếp đồ đạc gọn gàng, sáng mai, trước giờ anh em đi lao động anh lên đây nhận giấy phóng thích. nếu anh chưa khỏe, tôi chấp thuận cho anh ở lại vài ngày”.Tự nhiên tôi cảm thấy trong người khỏe hẳn, không bị đau nhức gì nữa.

Sáng mai, rời trại, đi xe đò từ Bù gia phúc ra huyện lỵ Phước Bình, anh tài xế nhất định không lấy tiền các bạn tù, măc dù chúng tôi chiếm gần một nửa hành khách, số còn lại là thân nhân tù cải tạo đi thăm chồng, con trở về, chỉ có vài dân địa phương.

Về Sài gòn, tôi đi cùng anh bạn cũ cùng quê, cũng tù cải tao về, vừa găp nhau trên chuyến xe Phước Bình – Sài gòn, chúng tôi xuống xe ở đầu cầu Trương minh Giảng, vô nhà chị tôi ở cuối hẽm 220 bên cạnh Đại học Vạn Hạnh. Buổi trưa nắng, vô nhà chị em mừng rỡ, chưa kịp uống ly nước thì có hai người đàn bà xông vào nhà dắt theo một đứa trẻ, la lối om sòm: “Các chú đi đứng gì lạ vậy? đụng con tôi té chảy máu mà cứ bỏ đi”. Chị tôi hốt hoảng xin lỗi và gọi con tìm bông băng, thuốc đỏ. Tôi vội phân bua: “Xin các chị thông cảm, chúng tôi mới đi tù cải tạo, nóng lòng về nhà nên đi vội vàng, đụng con chị lúc nào không biết, cho tôi xin lỗi và lo thuốc men cho cháu.”. Mấy bà dịu hẳn: ”Mừng các chú được về, thôi, các chú nghỉ ngơi, nhà tôi cũng có sẵn thuốc, để cháu về nhà bôi cũng được” rồi vui vẻ chào cả nhà ra về. Tôi cảm nhận được thâm tình của người dân Sài gòn với tù cải tạo, nhưng cứ phân vân mãi không biết có vô ý đụng ngã đứa bé không, hay đây chỉ là một vụ “ăn vạ” vì thấy chúng tôi ăn măc lôi thôi, mang xách lỉnh kỉnh, và đi dép lốp giống dân miền Bắc vào thăm bà con cán bộ công tác ở Sài gòn, nên khi biết chúng tôi là tù cải tạo thuộc “phe ta”, họ không làm khó nữa, vui vẻ rút lui. Đi cải tạo gần ba năm, tư tưởng không biết chuyển biến thế nào, chứ vẻ bề ngoài đã khác xưa nhiều lắm!

3-

Huế, thuộc tỉnh Bình Trị Thiên, xài đồng tiền miền Bắc (từ Đà Nẳng trở vào dùng đồng tền miền Nam) nên các chính sách cũng khắc nghiệt hơn. Cán bộ các cấp đa số là người miền bắc vào, chủ yếu là người Quãng Bình. Các sinh viên, học sinh “nhảy núi” không được tin dùng,nên ít thấy trong chính quyền cấp phường, xã.

Mỗi tháng hai lần, vào ngày 1 và 15, từ 8 đến 10 giờ, những người mới cải tạo về, còn trong thời hạn quản chế phải đến trình diện ở Phường Đội với một quyển vở ghi đầy đủ các việc làm trong nửa tháng đó để cán bộ theo dõi. Trong một buổi trình diện, cán bộ gọi tôi để kiểm tra lý lịch, hỏi:

– Anh chức vụ gi?
– Báo cáo cán bộ: Giảng viên toán
– Tôi hỏi anh: chức vụ của anh trong ngụy quân là gi? Tiểu đội trưởng, trung đội trường, đại đội trưởng hay trưởng ban, trưởng phòng…?
– Báo cáo cán bộ: chức vụ của tôi là Giảng viên toán trong Giấy ra trại cũng ghi như vây.
– Thôi được, anh nói rõ anh làm công việc gì.
– Tôi dạy toán cho sinh viên học, thỉnh thoảng thêm việc trực gác.

Trong số gần 30 người ngồi trong phòng có cả anh Huy (Trần đình Huy, cựu Trưởng phòng Tổ chức bên BCH), anh Huy từng bị gọi nhiều lần để giải thích về Trưởng phòng Tổ chức của anh (tương đương phòng 3), rất khác với chức năng phòng Tổ chức trong chính quyền mới.

4-

Cựu giảng viên VHV sau khi đi tù cải tạo, trở về Huế sống, còn có Hoàng Trân Châu, Đoàn văn Lang, sau này biết thêm Nguyễn Đức Đinh, Bùi Đắc Ân, Phan Thuận An…Cuộc sống vất vả, chật vât, nên anh em ít khi gặp nhau để hỏi thăm tin tức bạn bè, tin tức cũng rất hiếm vì lâu lâu mới có bạn đi Sài gòn. Tin buồn đầu tiên do anh Lang kể là cái chết trong tù của anh Phan Công Huỳnh, anh Huỳnh ở cùng trại Trảng Táo với anh Lang, anh Huỳnh đi lao động trong rừng, ngủ không màn, bị muỗi đốt dẫn tới bênh sốt xuất huyết cấp tinh (hay sốt rét ác tính?) không có thuốc chữa tri nên tử vong. Anh Lang có mặt bên anh Huỳnh từ lúc anh hấp hối đến lúc đem chôn trong rừng.

Sau đó không nhớ do tin từ đâu tôi biết anh Nguyễn Ngọc Tru bị xử bắn ở trong trai tù, kế đến là các anh Bùi Nhữ Trụ, Lê Việt Cường và Đinh Mạnh Tín đều tự tử sau khi cải tao về, tiếp theo là anh Trương Kim Chung, Nguyễn văn Phán mất. Để khỏi quên, tôi ghi vào một quyển vở theo thứ tự đó với đầu đề: “Các bạn đã mất”.

Khi tôi biết dùng email, anh em gởi cho tôi truyện ngắn “Chuyện buồn người vợ tù” tôi mới biết anh Chung mất vì bệnh kiệt sức trong một trại tù ngoài Bắc. Đến khi có trang mạng vanhoavu.com, đối chiếu “Danh sách các bạn đã mất” tôi ghi chỉ chừng một nửa danh sách trên mạng. Sau đó đọc “Truyền thông TVBQGVN” tôi biết thêm anh Huỳnh Công Tiết, giảng viên Hóa học, cũng mất ở trong tù.

Khi có chương trình HO, anh Lang vào Sài gòn, ghé thăm chú Nguyễn Bùi Thức, về kể lại: Chú Thức, nhân ra Huế thăm bà con bên ngoại trước khi đi Mỹ, rất muốn tim gặp anh em VHV ở Huế mà không biêt hỏi ai, nên đứng chờ ở cửa chợ Đông Ba và đầu cầu Trường Tiên mấy giờ liền, mong gặp anh em nào đi ngang qua, nhưng không gặp ai (vì lúc đó các anh em cựu VHV đạp xe thồ ở Huế đã có công việc khác khá hơn nên chuyền nghề rồi). Chú Thức cũng cho biết: anh em VHV bên Mỹ gần đây có gởi giúp một số anh em ở Sài gòn hoàn cảnh khó khăn và chú đã đưa địa chỉ anh Tô Thế Liệu, nhờ đó anh em ở Huế liên lạc và nhận được quà của gia đinh VHV hải ngoại, đặc biệt sau trận lụt lớn năm 1999 (đã làm thiệt mạng gần 500 người dân Thừa Thiên), ngoài ra còn cấp học bỗng cho con tôi suốt 7 năm Trung học và năm đầu Đại học.

5-

Trong một dịp tình cờ, tôi gặp người bạn chung với anh Trương Đình Thiện, anh ấy cho biết anh Thiện hiện sống lam lũ như một nông dân thực thụ với một cô giáo làng đã nghỉ hưu ở huyện Đức Trọng. Tôi liền viết thư thăm, và khuyên anh nên lên Đà Lạt gặp anh Tôn Thất Sam. để biết tin tức bạn bè. THế nhưng anh không liên lạc với anh Sam, mặc dù chỉ cách nhau vài chục cây số và anh Sam là bạn học từ thời học Quốc Học, đến Đai học Khoa học Huế và đồng nghiêp ở VHV. Anh viết cho tôi một lá thư dài, kín 4 trang giấy vở học trò, tôi còn giữ đén bây giờ (1).

Tôi biết anh Thiện từ khi về VHV, cùng dạy môn Cơ học lưu chất. Anh là thiếu úy Trưởng phân khoa. Cấp bậc thiếu úy của anh thâm niên 8 năm. Anh bị động viên năm 1962, tốt nghiệp Thủ Đức về Khoa Toán TVBQGVN, khi vừa lên thiếu úy thì tham gia tranh đáu Phật giáo, bị đình chỉ lên cấp và đổi ra chiến trường, lưu lạc khắp các tỉnh miền Nam, đến năm 1970, anh được đi học khóa Đại đội trưởng ở Trường Bộ Binh, tốt nghiệp lại về TVBQGVN, khoa Cơ khí. Tiếp xúc lâu ngày với anh, tôi nhận ra hình như anh mắc chứng “tâm thần hoang tưởng” cứ nghĩ mình có số làm lãnh tụ, nên luôn có mật vụ theo dõi, mưu sát…

Năm 2008, nhân chuyến vào thăm các con tôi làm việc ở Sài gòn, trên đường về tôi lên Đà Lạt thăm anh Sam, Trịnh Lang, Khiếu văn Quyết và dành hẳn một ngày đi xe buýt về thăm anh Thiện. nhà anh ở xã Phú Hội, Đức Trọng, ngay bên đường cái xe buýt đi qua, từ ngõ vào nhà sâu vài chục mét, cỏ mọc um tùm như vườn hoang, căn nhà gỗ xập xệ cửa đóng kín. Tôi gõ cửa và la lớn: “Có anh Thiện ở nhà không?” Nghe đáp lạ:”Có, ai đó?” Tôi chờ đến 5 phút cửa vẫn chưa mở, tôi la lên lần nữa: “Có anh Thiện ở nhà không?” anh đáp: “Thiện gần đến cửa rồi”, vài phút sau cửa mở, tôi nhận ra anh ngay, đen, ốm, già, nhưng không lạ. Anh nói: “Mình bị liệt 2 chân, nên lần từ trong giường ra hơi lâu”. Tôi hỏi: anh nhớ tôi không, anh không nhớ nhưng thấy quen. Tôi khai họ tên thì anh nhớ liền. Hai anh em ngồi vào bàn, trên bàn ngổn ngang đủ thứ lỉnh kỉnh, một xoong cơm, một cuốn tự điển rất dày. Anh kể chuyện: đi học tập cải tạo 7 năm, khi về thì vợ con đã đi Pháp không tin tức, anh về đây ở chung với một cô giáo làng có quen biết từ trước như vợ chồng, không có con, anh cuốc đất, làm rẫy, sống ẩn dật, không liên lạc với anh em ruôt ở Huế, không tiếp xúc với bạn bè và cũng không nộp đơn HO. Sau khi bà vợ mất, có nộp hồ sơ xin đi Mỹ theo chương trình HR, nhưng khi được gọi phỏng vấn thì đã bị bênh nặng dẫn đến liệt hai chân không về Sài gòn được, nên đành chịu. Túng thiếu, định bán bớt đất (do vợ để lại) để tiêu dùng, thuốc thang thì có một bà “bắc 75” chừng 60 tuổi đến hỏi mua, thấy anh đau yếu bà ở lại với anh luôn, như vợ chồng, không mua đất nữa, sáng sớm nấu cơm ăn, để lại cho anh phần buổi trưa, rồi về với con cái, hay đi làm nương rẫy gì không rõ, chiều tối lại về nấu cơm ăn. Tôi nói:

-Chắc bà ta thi hành “khổ nhục kế”, chịu khổ cực vài ba năm, chờ anh mất, chiếm luôn nhà cửa, đất đai, một cách hợp pháp, khỏi tốn tiền mua.

– Ai cũng nói thế, nhưng mình bây giờ cũng cần người chăm sóc,lo cơm nước,mình thấy bà đối xử cũng tốt.

– Sao anh không bán hết đất nhà rồi về Huế sống với mấy người em (anh Thiện có một em trai và một em gái ở Huế).

– Mình không bao giờ trở lai Huế.

image001Tôi nghĩ vì một chuyện tình dang dỡ thời trẻ hay lại là chứng tâm thần hoang tưởng cố hữu của anh. Tôi nhờ thời gian còn ở VHV, một lần tôi sắp đi phép thường niên về Huế thăm nhà, gặp lúc anh Thiên có điện tín báo tin mẹ mất, tôi góp ý anh xin phép rồi mua vé Air Việt Nam cùng về với tôi. Anh bảo: “Thôi, Thái cứ đi, cho mình gởi ít tiền về. Mình không đi được vì mật vụ luôn theo dõi mình, không khéo họ làm nổ máy bay ám sát minh, chết lây cả Thái”

Anh em chuyện trò hết cả buổi sáng, trưa, tôi trở lại Đà Lạt, ghé nhà anh Sam lần nữa, kể rõ hoàn cảnh anh Thiện, nhờ anh Sam chú ý giúp đỡ anh Thiện trị bệnh. Anh Sam là hội trưởng Hội Châm cứu Đà Lạt, có phòng khám bệnh Đông Y. Nhờ anh Sam và các đệ tử của anh ở huyện Đức Trọng thường xuyên đến châm cứu, giúp thuốc men và thực phẩm, nên chừng hơn 6 tháng sau anh Thiện đã đi lại được.

image003Về Huế, tôi báo tin cho em trai anh Thiện vào thăm để đem anh về, nhưng năn nỉ thế nào anh cũng không chịu về.

Khoảng 2 năm sau, tôi nhận được tin báo anh Thiện mất. Em trai, em gái và một người cháu ruột đi tàu vào Nha Trang rồi thuê xe lên Đà Lạt để kịp đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, nhưng số phận oái oăm, xe đi một đoạn thì người em gái say xe, sức khỏe yếu nên xe quay lại Nha Trang chữa tri, không còn kịp lên Đức Trọng đưa đám nữa, nên mua vé tàu về Huế.

Anh Thiện ra đi cô đơn một mình, không thân nhân, không bạn bè đưa tiễn, duy nhất chỉ có anh Sam đến điếu tang với vòng hoa mang dòng chữ “Cựu giáo sư VHV/TVBQG kính viếng” ….

THÁI LÊ

image005Nguyên văn lá thư của anh Thiện:

Phú hội, ngày 22 tháng 2 năm 2001

Bạn Thái thân mén,

Các bạn thân mến,

Sau một thời gian khá dài không nhận được thư tôi, chắc các bạn trông mong nhiều lắm, lễ ra tôi còn muốn để một thời gian dài hơn nữa mới viết thư cho các bạn vì nhiều lý do không thể trình bày rõ để các bạn hiểu được. Tôi xin nói vắn tắt thế này: Lời viết hay lời nói đều là phương tiện trình bày tư tưởng của con người, cho nên giấy mực rất quý báu, và ngôn ngữ cũng rất qúy báu, viết đúng và nói đúng là một hành động cực kỳ khó khăn. Vì yêu mến các bạn, không muốn để các bạn phải đi vào những con đường sai lầm nguy khốn, tôi đã từng giờ, từng phút, từng giây nghiên cứu tìm hiểu sự thật về con người, về thế gian, về xã hội, về vũ tru, về những hiện tượng siêu hình, vượt ra khỏi tầm hiểu biết của con người. Cho nên lời viết và lời nói của tôi chỉ được viết và nói sau một quá trình tìm hiểu sự thật. Xin các bạn chớ xem qua và nghe qua rồi bỏ quên mất, phải đọc đi đọc lại càng nhiều lần càng tốt, và nghe đi nghe lại càng nhiều lượt càng hay. Tôi ở xa cách các bạn, có thể nói là ở ẩn dật một nơi xa vắng, nhưng lòng vẫn tưởng nhớ đến các bạn ngày đêm, tôi vẫn biết các bạn và nhiều người thân trên xứ Huế hãy còn luyến nhớ đến tôi, đến một người đã ra đi không hẹn ngày tái ngộ. Tôi đã lang thang trên mọi miền đất nước với một chí nguyện duy nhất là tìm cho ra chân lý, tôi ước mong rằng sẽ mang về cho các bạn và những người thân yêu cái mặt trời chân lý rực rỡ và những đóa hoa tư tưởng đúng đắn muôn màu.

Các bạn thân mến, thế kỷ 20 vừa mới trôi qua, thế ky 21 đang tiến tới, cuộc đấu tranh giữa sự thật và sai lầm đang bước vào giai đoạn gay go quyết liệt, một mất một còn. Thế kỷ 20 là một thế kỷ vô cùng đen tối, một thế kỷ chìm ngập trong một đêm dài sai lầm, một thế kỷ đầy máu và nước mắt, một thế kỷ của bạo lực, của chiến tranh, của thù hận giữa người và người! Có thể nói rằng những tên phù thủy tham tàn hung bạo thuở xa xưa đã và đang tái sinh. Chúng thống trị nhân loại bằng bạo lực và mưu toan nhận chìm nhân loại vào một đêm dài nô lệ không bao giờ có buổi bình minh tự do! Dưới mắt chúng, con người chỉ là một con vật hay tệ hơn nữa chỉ là một mớ vật chất vô tri vô giác, tương tự như những viên sỏi đá, la một cái giá để mắc áo, một cái túi đựng cơm! Chúng dùng súng đạn lưỡi lê nhà tù xiềng xích, xây dựng lên các chế độ ngang nhiên chà đạp lên nhân quyền và công lý! Đã hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, mặc dù nằm dưới lớp bùn đen,tôi vẫn ước mơ một ngày nào đó bình minh tự do chợt đến. Những tên phù thủy biến mất, gông cùm xiềng xích không còn, tất cả mọi người trên thế giới đều được sống tự do bình đẳng hòa đồng, không một cá nhân hay tập đoàn nào được quyền áp bức, hà hiếp, nô dịch, bóc lột, cướp đoạt, đe dọa, hãm hại, tàn sát kẻ khác.

Than ôi! Đi đến đâu kẻ chiến thắng vẫn chỉ vào mặt ta nguyền rủa: “Mầy chỉ là một thằng lính ngụy”! Họ đã tước đoạt hết tài sản, nhà đất, vợ con! Đó là những thứ ta xem như rơm rác, cát bụi; bằng miệng lưỡi gươm đao và luận điệu của kẻ mạnh – lý của kẻ mạnh tất thắng – họ đã bôi đen ta từ đầu đến chân, nhưng họ không thể ngăn cấm được những giấc mơ của ta! Tiền bạc, súng đạn, lưỡi lê, nhà tù, gông cùm xiềng xích không thể thắng ý nguyện của con người, đó là một sự thật mà cũng là một qui luật lịch sử, có phải thế không các bạn?

Các bạn thân mến, thành bại, chết sống của con người đã không thể thay đổi được vì đó là định số do “quá khứ” quyết định, nhưng tương lai thì do hiện tại quyết đinh, cho nên con ngời không đổi được quá khứ, nhưng có thể làm thay đổi được tương lai. Nếu chúng ta nhận thức đúng, tư tưởng đúng, hành động đúng thì ưtương lai sẽ tốt đẹp. Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, mà “gieo gió tất sẽ gặt bão”.

Thuốc đắng đã tật, lời thật mất lòng. Nếu lời thư nhiều gai góc, cảm phiền các bạn phải buồn lòng.

Thân ái.

Trương Đình Thiện

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s