Văn chương nước ngoài 2014 và vài năm trước đó …(Đào Trung Đạo)

Nhân giỗ đầu Nguyễn Văn Sở
người bạn thiết mỗi lần gặp nhau không quên hỏi “Dạo này ‘toi’ đọc gì?”

Trước tiên hãy tìm hiểu sinh hoạt văn chương toàn cầu hiện nay qua nhận định của một vài nhà văn thế giới hiện đang ở trong sinh hoạt này. Một trong những đề mục của Jaipur literature festival được tổ chức ở Ấn Độ tháng Giêng vừa qua là cuộc trao đổi ý kiến về văn chương toàn cầu do nhà văn Chandrahas Chaudhury (Ấn) điều phối với năm khách mời là các nhà văn Jim Grace (Anh), Maaza Mengist (Mỹ gốc Ethiopia), Xiaolu Guo/Quách Tiểu Lộ (Anh gốcTrung quốc), Jhumpa Lahiri (Mỹ gốc Ấn) và Jonathan Franzen (Mỹ trắng, nam). Tuy cả năm nhà văn khách mời đều đưa ra ý kiến về chủ đề này nhưng có lẽ những ý kiến đáng lưu ý hơn cả là của Xiaolu Guo/Quách Tiểu Lộ, Jhumpa Lahiri và Jonathan Franzen. Một cách tóm lược: nhà văn nữ gốc Trung Quốc hiện sống và viết ở Anh Quách Tiểu Lộ than phiền về việc Văn chương Mỹ đã được đồng loạt đánh giá, xếp hạng quá cao (overrated) và thói quen đọc sách của chúng ta nay đã hoàn toàn bị biến đổi bởi giòng chính (mainstream) … quá Anglo-Saxon, quá Mỹ …Ngày nay vì vậy toàn thể việc kể truyện [văn chương] hóa ra rất giống nhau, quá hiện thực, quá chú tâm vào việc kể-truyện (narrative-driven) …thế nên tất cả thi ca, tất cả những thứ không giống như thế đã bị xã hội giòng chính xô đẩy đi nơi khác.” Cô cũng nói với Jonathan Franzen (tác giả tiểu thuyết Freedom (Franzen được giới văn chương Mỹ kỳ vọng là người có triển vọng viết được “The Great American Novel) rằng “Tôi thích sách của anh nhưng trong một cách nào đó anh đã bị văn chương Mỹ làm vấy bẩn (smeared)”. Về phần nhà văn Mỹ gốc Ấn Jhumpa Lahiri (giải Pulitzer, chán đời sống Mỹ nên sang Ý ở từ hai năm nay) lên tiếng phiền trách về việc những tác phẩm ngoại quốc hiếm khi được dịch ở Mỹ. Bà cũng đưa ra nhận xét sự chế ngự của văn chương viết bằng Anh văn làm cho bà cảm thấy “thật bực bội…vì nay có một quyền lực, một giới độc giả và một thứ tiền tệ thương mại nào đó,” và còn cho rằng “có thật nhiều thứ văn chương khác cần được đưa ra, và sự nguy hiểm là [ở chỗ vĩec sách dịch trở thành hiếm hoi] nay đang ngày càng không lộ ra.” Quách Tiểu Lộ cũng đưa ra nhận xét: “Nếu bạn viết bằng tiếng Nhật hay tiếng Việt hay tiếng Bồ Đào Nha thì bạn phải chờ đợi…để được dịch, và văn chương dịch thực chẳng bao giờ được coi như văn chương Mỹ ngay lập tức trừ phi thắng giải Nobel hay vài giải lớn khác. Thế nên việc dễ nhất và lười biếng nhất là viết bằng Anh văn. Đó thật là một cuộc chiến đấu gay go khi viết bằng bất kỳ ngôn nào khác Anh văn,” và “Tôi muốn nói rằng ngôn ngữ là một giấy thông hành. Cũng lại là một giấy thông hành không đáng tin cậy và nguy hiểm.” Jonathan Franzen cũng tỏ ra lo ngại về sự đồng dạng hóa văn chương do toàn cầu hóa gây ra, và sự khác biệt nay chỉ còn là một kinh nghiệm hoài nhớ. Không hoàn toàn đồng ý với Jhumpa Lahiri anh nói: “Một trong những hậu quả của toàn cầu hóa, với tôi dường như vậy, và tôi nghĩ chúng ta đã thấy ngay trong thế giới văn chương, rằng mọi thứ đã trở thành kém đi về chiều ngang (horizontal) và mạnh hơn về chiều dọc (vertical). Nếu như bạn hãy cứ tưởng tượng ra rằng mọi thứ được phiên dịch một cách hoàn hảo, rằng chúng ta có được những tài trợ to lớn cho việc dịch, rằng bất cứ ai xuất bản bằng tiếng Romanian ở Romania [rồi cũng được dịch], rằng nếu nó lập tức sẵn sàng có đấy trong mọi thứ ngôn ngữ ở khắp mọi nơi, thì bạn vẫn cứ phải đối diện với việc chỉ có số thời gian giới hạn để đọc mà một người đọc có được… thật tức cười nếu bạn nghĩ rằng sẽ có sự khác biệt lớn hơn trong cái được đọc, nhưng tôi e ngại rằng cái khuynh hướng ngày càng hướng về toàn cầu thì thị trường văn chương hóa ra lại càng hướng về một thứ hệ thống siêu sao và một đại dương mênh mông của những người không tìm được người đọc.”

Qua những phát biểu của Quách Tiểu Lộ, Jhumpa Lahiri và Jonathan Franzen về văn chương toàn cầu hiện nay chúng ta thấy gì? Thứ nhất, trong thời đại toàn cầu hóa văn chương viết bằng tiếng Anh chiếm thế thượng phong áp đảo. Đó là nguyên nhân dẫn tới lời than phiền về việc văn chương Mỹ được đánh giá, xếp hạng quá cao, và chính vì vậy gây ra hậu quả là việc ở Mỹ có quá ít sách dịch từ các nước khác được xuất bản, thế nên không đáp ứng được trào lưu toàn cầu hóa văn chương. Do thế thượng phong của Anh ngữ nên văn chương Anh-Mỹ hôm nay chiếm phần lớn sân chơi quốc tế, dẫn đến hệ quả văn chương Mỹ đã bị phần còn lại của thế giới ganh tị ghét bỏ. Chứng cớ: Trong nhiều năm các ông Hàn Nobel đã không trao giải cho nhà văn Mỹ nào. Thứ nhì, thói quen đọc sách của đại chúng bị xói mòn, nhà văn phải đi kiếm độc giả trong một thị trường văn chương bị thương mại hóa, độc giả chạy theo thị hiếu giải trí, những người đọc đẳng cấp đam mê văn chương nay là thiểu số, và gần như là thiểu số càng ngày thiểu số hơn. Thứ ba, trước tình trạng này nhà văn không thể không nêu ra câu hỏi: Phải chăng văn chương đang đi vào chung cuộc? Câu hỏi này đã nhiều lần được đặt ra trong quá khứ. Tiếp đó là một câu hỏi cảnh báo khác: Có phải tình trạng này cũng đòi hỏi văn chương cấp thiết phải tra vấn về chính yếu tính văn chương để sống còn? Liệu văn chương có sẽ tìm ra ngả để tồn tại như trong lịch sử đã cho thấy?

Trở lại câu hỏi của Bạn “Năm qua và mấy năm trước đã đọc những tác phẩm văn chương thế giới nào?” Câu hỏi quá bao quát này buộc tôi phải giới hạn cái đọc đặt trên tiêu chí đọc văn, nhất là đọc tiểu thuyết, của riêng mình. Đó là: giới hạn vào tác phẩm tiểu thuyết nào (được xuất bản năm qua và những năm trước đó) đã xô đẩy được tiểu thuyết về một hướng phát triển mới (vì tiểu thuyết là loại hình văn chương không ngừng thay đổi). Quan niệm này được rút ra từ việc đọc những đại thụ tiểu thuyết như Proust, Joyce, Kafka, Beckett, Faulkner, Nabokov, Perec…của thế kỷ trước cũng như những nhà văn thế giới tầm cỡ xuất hiện trong vòng ba mươi năm trở lại đây. Tiêu chí này trước hết cho phép tôi ở trong giới hạn thời gian ít ỏi dành cho việc đọc tiểu thuyết. Việc đọc/đánh giá tiểu thuyết của tôi (rất có thể không được nhiều người đồng ý) chủ yếu được đặt trên ba thành phần không thể thiếu của tiểu thuyết đúng nghĩa tác phẩm văn chương: thời gian, thế giới và kỹ thuật viết cộng với văn tự. Thứ nhất, về thời gian: tiểu thuyết nằm ở thời hiện tại, là biến tấu giòng thời gian hiện tại sống động không ngừng chảy; thứ hai, thế giới của tiểu thuyết: đó là thế giới đang thành hình từ thế giới hiện thực, là thế giới mở ra thế giới (như cách nói của Heidegger) từ thế giới hôm nay đã bị xé rách (déchiré) hay đoạn rời thành nhiều phần, và nhà văn phải có khả năng dung tưởng ra thế giới tiểu thuyết trên cái nền này; thứ ba, để mô tả thế giới dung tưởng và những con người sống trong thế giới đó người viết tiểu thuyết cần có một kỹ thuật sáng tạo riêng biệt do học hỏi, tiếp nhận và biến đổi từ những kỹ thuật viết tiểu thuyết của những bậc thầy tiểu thuyết thế giới (*) cộng với việc tạo một văn tự (écriture/writing) cho tiểu thuyết của riêng mình hướng tới nỗ lực vượt lên trên văn tự tiểu thuyết quá khứ.

Những tiểu thuyết được nhắc tới trong bài này là những quyển được viết bằng (hay dịch sang) Anh văn và Pháp văn.

Hai trong ba nhà văn khách mời của Jaipur literature festival 2015 nói trên có tác phẩm xuất bản năm 2014: Quách Tiểu Lộ với I am China/Tôi là Trung Quốc và Jhumpa Lahiri với The Lowland. Trong khi quyển truyện mới của Quách Tiểu Lộ được khen ngợi thì Jhumpa Lahiri đã làm mất đi sự yêu mến độc giả trước đây đã dành cho The NamesakeUnaccustomed Earth. Dù cho The Lowland được trao giải DSC Prize for South Asian ở Jaipur literature festival 2015 nhưng quả thực quyển truyện này quá tầm thường! Còn Jonathan Franzen vào tháng Chín 2015 sẽ cho ra mắt tiểu thuyết Purity được cho là một chuyển hướng viết của nhà văn có tiểu thuyết bán chạy hàng đầu ở Mỹ này.

Quách Tiểu Lộ thuộc thế hệ hậu-Thiên An Môn. Kể từ khi sống lưu vong ở Anh từ năm 2002 đến nay hoạt động văn học nghệ thuật của nhà văn nữ này khá sôi nổi: vừa là nhà sản xuất và đạo diễn phim ảnh vừa viết văn Quách Tiểu lộ đã cho ra mắt 1914: Goodbye to All That: Writers on the Conflict of Life and Art gồm những bài viết của các nhà văn thế giới như Ali Smith (Scotland), Ales Steger (Slovenia), Jeanette Winterson (England), Elif Shafak (Turkey), NoViolet Bulawgo (Zimbabuwe), Colm Toibin (Ireland), Erwin Mortier (Belgium), Kamila Shamsie (Pakistan), và Daniel Kehmann (Germany) do Quách Tiểu lộ đứng chủ biên, tiểu thuyết Because I am a Girl (2010), 20 Fragments of a Revenous Youth (2009), Lovers in the Age of Indifference (2008), Concise Chinese-English Dictionary for Lovers (2007) (đã được giới thiệu trên Gió-O). Quách Tiểu Lộ được tạp chí Granta năm 2013 coi là “một trong những nhà văn Anh trẻ hàng đầu hiện thời.” Trong một bài phỏng vấn Quách Tiểu Lộ cho biết I am China là quyển tiểu thuyết cuối cùng cô viết về Trung Quốc.

Tiểu thuyết I am China/Tôi là Trung Quốc được viết theo cấu trúc pha trộn tiểu thuyết thư (epistolary novel), tiểu thuyết nhật ký và lối viết tiểu thuyết thông thường. Vì vậy có hai giòng tự sự: giòng thứ nhất của người kể chuyện, hai giòng kia của hai nhân vật chính trong những bức thư và trong nhật ký của họ. Chủ đề cuốn tiểu thuyết này xoay quanh những vấn đề về mối tương quan giữa nghệ thuật và chính trị, văn nghệ sĩ lưu đầy vô xứ, chế độ cọng sản kiểm duyệt và đàn áp tiêu diệt văn nghệ sĩ, “Ý thức hệ là lò sát sinh”, tình yêu bị chia lìa vì thảm họa lịch sử và chính trị. Quách Tiểu Lộ chia quyển tiểu thuyết này thành chín chương, mỗi chương được đề từ bằng những câu thơ, câu nói của những triết gia, kịch tác gia hay tục ngữ cổ Trung Quốc (nguyên văn bằng chữ Hán và được QTL dịch sang Anh văn) như những dấu vết truyền thống văn chương của tác giả. Tác giả cũng viết tiểu thuyết này để kỷ niệm năm thứ 25 cuộc nổi dậy của sinh viên Trung Quốc vào Mùa Xuân ngày 4 tháng Sáu năm 1989 ở Quảng Trường Thiên An Môn, Bắc Kinh. Quyển truyện mở đầu bằng khai từ (prelude) khá đột ngột: một bức thư viết vào tháng Chạp 2011 của một người Trung Quốc ký tên Jian gửi cho người yêu vắng mặt tên Mu. Tác giả không cho người đọc biết hiện Jian và Mu là ai, đang ở đâu. Trong bức thư này Jian kể lại biến cố ở Thiên An Môn, anh là một nhạc sĩ đã có mặt ở đó khi xảy ra biến cố lịch sử này vào năm 1989 và Jian cũng bày tỏ niềm hy vọng sẽ sớm trùng phùng đoàn tụ với Mu người yêu của anh. Quách Tiểu Lộ cho quyển tiểu thuyết này bắy đầu từ tháng Tư và kết thúc vào tháng Chạp 2013.

Giòng tự sự thứ nhất có tuyến thời gian liên tục kể truyện Iona Kirkpatrick 31 tuổi là một nữ dịch giả thông thạo nhiều sinh ngữ được Jonathan Barker một chủ nhà xuất bản ở Anh trao cho một gói lớn bản sao thư từ và nhật ký viết bằng tiếng Hoa của Kublai Jian và Deng Mu do chính Mu trao tay cho Jonathan Barker nhân dịp ông tới Bắc Kinh tham dự một đại hội văn chương thế giới vào mùa Xuân năm 2013. Jonathan Barker đưa cho Iona tài liệu này để dịch ra Anh văn với hy vọng rồi ra sẽ có trong tay một cuốn tiểu thuyết lớn. Tự sự về nhân vật Iona được ghi trên đầu mỗi phần bằng địa điểm London, tháng…và năm 2013. Nguyên do Jonathan có được những tài liệu này: Khi ông vừa chấm dứt bài nói chuyện của tại đại hội văn chương nhằm khuyến khích các nhà xuất bản ở Trung Quốc nên dịch những tác phẩm của các nhà văn lưu đày chống chế độ Liên xô trước đây thì có một phụ nữ đến gặp ông xưng tên là Deng Mu và nói với ông rằng mình cũng rất thích quyển Đời và Mệnh/Life and Fate của Vasily Grossman mà ông đã nhắc đến trong bài nói chuyện vừa rồi. Ngay sau đó Mu vắn tắt nói với Jonathan rằng Mu có người bạn trai hiện thất lạc ở Âu châu, hai người đã mất liên lạc từ mấy tháng nay. Mu nhờ ông đem gói tài liệu này trao cho văn phòng Amnesty International ở Anh vì nếu Mu tự tay đem tới sẽ rất nguy hiểm. Mu cũng nói nếu Amnesty International không tìm ra được người bạn trai thì Jonathan cũng nên đọc những tài liệu này để giúp Mu tìm tung tích người bạn trai. Mu không quên cho ông số điện thoại của mình ở Bắc kinh rồi vội vã tháo lui. Jonathan Barker là một chủ nhà xuất bản thành công, say mê công việc, có óc tò mò về những chuyện bí ẩn và có khả năng đánh hơi được giá trị nằm dưới những bức thư và những đoạn nhật ký ông đang thuê Iona dịch: chủ đề về sự kiểm soát tự do nghệ thuật hiện nay ở Trung Quốc là một chủ đề đang được chú ý ở Âu-Mỹ.

Khi bắt tay vào việc dịch càng ngày Iona càng bị cuốn hút vào cuộc đời của Jian và Mu với những biến cố đã xảy đến với họ được ghi lại trong những bức thư tình và những đoạn nhật ký rất lộn xộn phần lớn không ghi ngày tháng cho nên không thể biết trật tự thời gian nào. Iona coi đó như “đám cỏ dại và gai nhọn.” Nhưng nỗ lực dịch thuật của Iona được thúc đẩy bởi niềm tin như cô bày tỏ: “Nếu như bạn để ra đủ thì giờ đọc những ý tưởng của người khác thì rồi sau đó chẳng bao lâu ý tưởng của họ sẽ bắt đầu ảnh hưởng tới bạn. Nhận định về bản thân của bạn sẽ trở thành mong manh,” và “Công việc của một dịch giả là đem ra ánh sáng một cái gì đó từ một thế giới khác vào thế giới của chúng ta.” Vì vậy trong khi dịch Iona đã thử cố sắp đặt những nhật ký và những bức thư của cặp tình nhân này sao cho thành một quyển sách có ý nghĩa. Kết quả Iona nhận ra rằng truyện tình của Jian và Mu như thể “một vùng đất bỏ hoang, một không gian trơ trọi; họ đã không ngay cả nhắc đến tên nhau nữa kể chi tới việc họ nói về cuộc tình của họ.”

Những lớp tự sự thứ nhì không được xếp theo thứ tự thời gian trộn vào giòng tự sự thứ nhất trong cuốn tiểu thuyết của Quách Tiểu Lộ đòi hỏi sự kiên nhẫn của người đọc như thể đang chơi trò chơi puzzle, phải tự sắp đặt những mảnh riêng rẽ vào nhau để có một bức tranh toàn diện. Tuy khó nhưng trò chơi này khiến người đọc vì sự tò mò thách thức nên dễ dàng bị cuốn hút vào cuộc tình và số phận buộc phải chia cách và tình cảnh lưu đầy của hai nhân vật chính Jian và Mu. Những thông tin trong truyện không do tác giả cung cấp mà chỉ căn cứ trên bản dịch những tài liệu do Iona thực hiện nên người đọc khó phanh phui ra đầu đuôi câu truyện. Chẳng hạn về Kublai Jian chúng ta được cho biết anh là một tay chơi nhạc Rock “lề trái” có hai giòng máu Mông cổ và Hán sống ở Bắc Kinh. Dĩ nhiên dưới một chế độ toàn trị một nhạc sĩ Rock ngoài lề giòng chính như Jian không khỏi bị chính quyền theo dõi. Còn Deng Mu là một thi sĩ phái nữ xuất thân từ một gia đình nghèo cư ngụ tại một ngôi làng chuyên nghề nông thuộc Miền Nam Trung Quốc, lên Bắc Kinh học đại học, có đầu óc tinh tế, quan niệm “những ý thức hệ và chính trị tầm thường nằm ngoài thế giới vô cùng vô tận.” Qua nhật ký của Mu người đọc biết Jian và Mu có với nhau một đứa con trai đặt tên là bé Shu nhưng đứa trẻ này đã chết vì bệnh viêm màng não khi mới được hơn sáu tháng vào tháng 5, 2006. Sau cái chết của bé Shu hai người sống câm nín, không cả nói với nhau. Sau đó vì quá đau khổ Mu dọn ra ở riêng với sự đồng ý của Jian sau bốn năm chung sống. Nhiều năm sau khi đã sống xa cách Mu hiểu ra lý do chính của sự chia ly là bởi Jian ham mê tìm hiểu quyền lực, lao vào đấu tranh cũng vì ảo ảnh đam mê quyền lực như hầu hết mọi người đàn ông khác nên Mu không thấy mình có một vị trí nào trong cuộc sống chung.

Iona chật vật chắp nối sắp đặt những tài liệu của Jian và Mu. Truyện tình của hai người bắt đầu sau biến cố Thiên An Môn: Jian gặp Mu lần đầu trong một cuộc đấu bóng chuyền và lần thứ nhì trong một buổi trình diễn của ban nhạc của anh. Jian bị thu hút bởi cặp mắt đen tròn xoe của Mu. Jian theo học môn Lịch sử còn Mu theo chuyên ngành Văn chương Tây phương. Hai người yêu nhau được khoảng bốn năm những biến cố chính trị xảy ra với Jian trong giai đoạn hậu-Thiên An Môn đã chia cách họ nên hai người tuy yêu nhau thắm thiết nhưng chỉ còn cách trao đổi thư từ cũng như viết nhật ký về cuộc tình của họ suốt trong vòng 20 năm. Qua những bản dịch thư từ và nhật ký của Jian và Mu người đọc được biết Jian đã bị bỏ tù sau khi cuộc Cách Mạng Hoa Nhài xảy ra ở Tunisia và Egypt. Ở Bắc Kinh giới trí thức, thanh niên và những đảng viên cộng sản có tư tưởng đổi mới thật sự, khao khát có sự thay đổi nên khởi xướng một thứ “Cách mạng Tản Bộ/Strolling Revolution” và Jian là một trong những thủ lãnh phong trào này. Chính quyền lo sợ ảnh hưởng của Cách Mạng Hoa Lài lan rộng nên ra lệnh tìm mọi cách dập tắt cuộc “Cách Mạng Tản Bộ”được coi như có tổ chức giống như cuộc Cách Mạng Hoa Lài.

Sau chuyến thăm Trung Quốc tham dự đại hội văn chương thế giới ở Bắc Kinh trở về Jonathan và Iona gặp nhau ở văn phòng nhà xuất bản. Jonathan có thêm tin tức về mẹ và cha của Jian cho Iona: mẹ Jian tên là Ling Rui, xuất thân từ một gia đình giàu có, lai hai giòng máu Mông cổ-Hán ở Ulan Bator thuộc Mông cổ nhưng lại chào đời tại Bắc Kinh, có trình độ học vấn cao, giữ chức thư ký của Văn phòng Ủy Ban Văn Hóa Đảng ở Bắc Kinh. Nhưng khi cuộc Cách Mạng Văn Hóa bùng nổ bà đã bị vệ binh đỏ truy bức hạ nhục chỉ vì chúng tìm thấy trong văn phòng của bà một thỏi son và một đĩa nhạc đã cũ của Satie một nam ca sĩ Pháp nổi danh một thời. Ling Rui sau ba ngày bị hạ nhục nơi công cộng khi trở về nhà đã tự sát và Jian khi đó mới bốn tuổi là người đầu tiên nhìn thấy người mẹ nằm chết trên vũng máu trong phòng của bà. Cha Jian là một đảng viên cao cấp thuộc phe cánh Đặng Tiểu Bình hiện đang nắm quyền lãnh đạo một thành phố lớn ở Miền Nam Trung Quốc. Biết tin vợ tự sát nhưng cha anh không hề trở về đưa đám vợ, sau đó lập gia đình mới, nhanh chóng leo lên địa vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng. Chính vì thảm kịch này nên từ đó Jian rất thương nhớ mẹ và thù ghét cha. Cha anh tên là Hu Shulai hiện là Thủ tướng Trung Quốc. Jonathan căn dặn Iona phải giữ kín những thông tin này. Jonathan cũng cho Iona biết thật ra tên của Jian là Hu Xingjian nhưng sau khi đoạn tuyệt với cha anh đổi tên là Kublai Jian khi anh mới 10 tuổi. Jonathan cũng trao cho Iona chiếc CD tên “Yuan vs Dollars” của Jian khi hai người chia tay. Một lần nữa Jonathan nhấn mạnh Iona phải giữ kín những thông tin tuyệt mật lấy được từ một nhân viên ẩn danh của Tòa Sại sứ Anh ở Bắc kinh này. Những trang nhật ký của Jian cho người đọc biết vào ngày 15 tháng 11, 2011 ban nhạc của Jian trình diễn ở sân Thế Vận Hội Bắc kinh với 30.000 người tham dự trong không khí hứng khởi nồng nhiệt và ở buổi trình diễn này anh đã phân phát bản tuyên ngôn của anh cho mọi người. Nhưng đang khi cuộc biểu diễn nhạc còn chưa chấm dứt công an tràn tới giải tán, Jian và ban nhạc bốn người của anh bị công an bắt giữ đánh đập tàn nhẫn, nhốt ở một đồn công an ở khu phố kế cận Bắc Kinh. Ba người bạn của anh được gia đình đóng tiền thế chân còn anh vì không có thân nhân gia đình nên bị câu lưu rồi sau đó bị chuyển đến một trại giam tù chính trị khác. Khi còn ở đồn công an, vì quen thuộc với tiếng chuông điện thoại của Mu vốn là một bản nhạc của mình Jian biết Mu có đến thăm nhưng không được cho phép gặp anh vì Mu không phải thân nhân ruột thịt. Sau hai tuần lễ bị giam giữ với tội danh “có hành vi chống phá lật đổ chính quyền” Jian đột nhiên bị chuyển đến một trại giam bí mật khác. Nhưng sau đó một viên cai tù nhận được một cú điện thoại mật trước khi đưa Jian ra tòa xử. Theo thông tin của một nhân viên Tòa Đại sứ Anh ở Bắc kinh vốn yêu thích CD “Yuan vs Dollars” của Jian tiết lộ với Jonathan thì phiên tòa xử Jian bị đình hoãn vô thời hạn do lệnh từ một lãnh đạo chính quyền rất cao cấp. Ba tuần lễ sau đó Jian được trao cho một sổ thông hành du lịch mới tinh do Tòa Địại Sứ Anh cấp: ngày 29 tháng Chạp 2011 Jian tự do bước lên máy bay đi Hong Kong. Theo dư luận rò rỉ đồn thổi ở Bắc Kinh thì chính cha anh, vị Thủ Tướng đương nhiệm là người đã bí mật dàn xép mọi chuyện cho Jian. Từ Hồng Kông anh bay sang Thụy Sĩ, bị nhốt vào trại giam những người đào tỵ từ Somalia, Angola, Lybia, Syria, Egypt…ở Berne. Sau đoa Jian được chuyển về một trại giam giữ người nhập cảnh bất hợp pháp ở Anh nột đơn xin tỵ nạn nhưng đơn xin tỵ nạn của anh bị chính phủ Hoàng gia Anh từ chối và lại chuyển Jian về một trại khác ở Thụy sĩ. Sau một thời gian điều tra Jian được trại này cấp cho một giấy phép định cư tạm thời một năm. Jian đón taxi sang thị trấn Annecy nằm giữa Thụy sĩ và Pháp, cảm thấy sự sung sướng tuyệt cùng của một con người tự do. Jian xin vào làm phụ bếp cho tiệm ăn Blue Lotus chủ là già Chang Linyuan. Khi già Chang quyết định hồi hương ông cho Jian tấm thẻ bảo hiểm sức khỏe. Có được tấm thẻ dưới cái tên mới Chang Linyuan hay William Chang này Jian đến Paris trú ngụ ở khu Montmartre nghèo khổ tối tăm giống như Picasso, van Gogh, Jim Morrison trước đây! Jian tạm sống bằng nghề hát dạo độ nhật ở những bến xe điện quanh khu Montmartre. Anh cảm thấy mình nay là một kẻ không tên, một bóng ma. Sau đó anh hợp tác với một ban vũ khỏa thân gồm sáu vũ nữ đồng tính và trưởng đoàn Madeleine Magdalene ngoại lục tuần cũng là người đồng tính và đã từng là đạo diễn và nhà sản xuất những bộ phim khiêu dâm. Jian dọn vào sống chung với đoàn vũ khỏa thân này và anh đã phải trải qua những giờ phút bị “vong thân”, bị cướp đi tình cảm lãng mạn vì đêm ngày những thân thể phụ nữ lõa lồ của những vũ công trong đoàn đập vào mắt Jian, vây bủa anh dù cho anh có ngoảnh mặt đi nơi khác. Mấy tháng sau đoàn vũ được mời sang Nga trình diễn nhưng họ không thể cho Jian đi theo vì anh là một di dân bất hợp pháp. Họ cho anh ở trong căn hầm của họ khi họ vắng mặt nhưng muốn mượn anh cây đàn guitar bấy lâu là vật thân thiết nhất của Jian nhưng cây đàn đầy kỷ niệm này với anh nay chỉ còn là một vật vô hồn anh không còn cảm thấy thân thiết nên Jian đồng ý cho đoàn mượn. Sau đó Jian lang thang phiêu bạt về Marseille rồi sang sống cô độc ở đảo Crete, Hy Lạp trên một chiếc tàu nhỏ bỏ hoang trên bãi biển và làm quen được với hai vợ chồng già tốt bụng bỏ thành phố đô hội về Crete dưỡng già. Mỗi khi ghé thăm cặp vợ chồng già này Jian đều được bà vợ cho ăn những món bà làm để giải trí.

Trước đây tuy yêu nhau nhưng Jian và Mu lại có quan điểm khá khác biệt về mối quan hệ giữa nghệ thuật và chính trị. Trong một bức thư Jian đã viết cho Mu “Như em biết anh tin tưởng rằng điều chúng ta làm, hành động của chúng ta, là sự bày tỏ thiết yếu nhất của nghệ thuật và vì vậy cũng là sự bày tỏ quan điểm chính trị thiết yếu nhất,” nhưng Mu không đồng tình “Em chán ngấy rồi, như thế đã là quá đủ. Quá nhiều ý thức hệ cho một cuộc đời ngắn ngủi. Em không muốn mang nặng tất cả những món đó.” Ngay từ khi còn trẻ Mu đã quyết định giữ bằng được sự nguyên vẹn bản chất của mình và chống lại sự xâm nhập của thứ ý “thức hệ cứng nhắc”. Quá gần một phần ba quyển truyện người đọc cũng được cho biết vào tháng 4, 2012 Mu sẽ qua sống ở Mỹ. Lý do thật kỳ lạ: Sau khi nghe Mu trình diễn thơ với nhóm chơi nhạc trẻ punk Underground Slam Poetry Group tại một quán ở gần đại học Qing Hua một du khách Mỹ lai Trung Quốc tên Bruce có gia đình giàu có nảy ra ý kiến đem nhóm này sang Mỹ lưu diễn dưới cái tên ban nhạc Beijing Manic. Bruce xoay sở được thông hành cho cả nhóm để sang Mỹ. Bruce cũng đặt cho Mu một cái tên mới là Sabotage Sister! Bruce đưa nhóm Beijing Manic đi lưu diễn ở nhiều tiểu bang trên nước Mỹ. Và lần diễn cuối cùng trước khi đoàn trở về nước là ở đại học Harvard. Cuộc trình diễn này là một kinh nghiệm đau đớn tột cùng của Mu. Mu quá thất vọng về những du sinh Trung quốc ở Harvard: Sau khi Mu trình diễn một bài thơ cải biến bài “America” của Allen Ginsberg: “Trung Quốc đến khi nào ngươi mới là thiên thần?/Trung Quốc đến khi nào ngươi mới lột bỏ quần áo?/Khi nào ngươi mới nhìn mình qua nấm mồ?/Khi nào ngươi mới xứng đáng với hàng triệu Trotskyites? Trung Quốc tại sao những thư viện của ngươi đầy nước mắt? Mu bị những du sinh Trung Quốc là con cái những quan chức cao cấp của Đảng trong đó có cả những sinh viên hiện đang theo học bậc Tiến sĩ và Thạc sĩ nhảy lên sân khấu sỉ nhục, phun nước miếng vào mặt, tát tai, gọi Mu là đồ đĩ. Mu đau sót vì sự ngu xuẩn của trí thức trẻ Trung Quốc được du học ở một đại học danh tiếng của nước Mỹ bằng tiền tham nhũng của cha mẹ. Và Mu thương cảm cho nỗ lực của Jian trong quá khứ cũng đã bị những kẻ ngu xuẩn buộc anh phải câm miệng. Sau buổi trình diễn này Bruce đem ban nhạc về nghỉ ngơi ở nhà cha mẹ anh ở Boston. Mu một mình đi Main vì muốn sống xa cách mọi người một thời gian. Vì Bruce quên thu giữ hộ chiếu xuất cảnh của mọi người nên khi nghe Mu nói sẽ một mình đi chơi xa anh tỏ vẻ bối rối. Trước thái độ này của Bruce cô thẳng thừng nói cho anh rõ là cô sẽ trở lại chứ không nhân dịp này để trốn lại ở Mỹ.

Trong I am China Quách Tiểu Muội nêu ra những nghi vấn khó có giải đáp: Trong một đất nước độc tài toàn trị văn học nghệ thuật có nhất thiết phải có tính cách chính trị? Nếu quả thực là như vậy thì nhà văn, người nghệ sĩ có thể đẩy xa vấn nạn này tới đâu? Một cá nhân có thể hành xử như thế nào trong một xã hội đề cao tập thể thay vì cá nhân? Sự giao thoa giữa nghệ thuật và chính trị có đáng giá những xáo trộn, hỗn loạn và sự đớn đau người nghệ sĩ, nhà văn gây ra cho những người thân yêu? Có một vài chi tiết khá thú vị trong quyển tiểu thuyết này: Quách Tiểu Lộ là người không tin tưởng vào việc dịch văn nên ban đầu đã khắc họa một chân dung dịch giả Iona không mấy thiện cảm: Iona chỉ là một kẻ đứng ngắm nhìn (voyeur), một con thuyền trống rỗng có thể chuyên chở truyện tình của Jian và Mu ra ánh sáng. Nhưng càng ở những phần sau cuốn truyện Quách Tiểu Lộ càng tỏ ra thương cảm cuộc đời của Iona hơn: tuy còn trẻ nhưng Iona tình cảm đã cằn cỗi không còn tin tưởng vào tình yêu, quả giao, không có bạn bè thân thiết ngoài người chị tên Nell và gia đình nhưng chị cô tuy có người chồng tử tế dễ thương nhưng lại quá bận rộn rộn không có thì giờ cho riêng mình vì hai đứa con, người thầy cũ già uyên bác dạy Hoa văn của cô ở đại học trước đây, và cuộc tình vụng trộm hiện nay với Jonathan. Đời sống khô kiệt của Iona, sự thù ghét hôn nhân, coi những cuộc làm tình chóng vánh rồi không bao giờ còn gặp lại nhau với những người đàn ông Iona chỉ coi như một nhu cầu bản thân nên không cần thắc mắc về tương lai. Thái độ và việc làm như vậy của Iona có lẽ phần nào do sự khinh bỉ người cha của cô lén lút có tình nhân trong nhiều năm khi Iona còn bé biết rõ hành vi xấu xa của cha. Đau đớn hơn nữa mẹ của Iona tuy biết chồng ngoại tình nhưng giữ thái độ cam chịu. Chính vì vậy Iona bảo lưu một quan niệm nữ quyền triệt để. Tuy không đánh giá cao việc dịch văn nhưng Quách Tiểu Lộ phần nào cũng nhìn nhận giá trị việc làm của Iona: “Cả hai người [Jian và Mu] đang cố công xây nên một chiếc cầu để họ có thể gặp nhau trên đó. Và dường như Iona cũng đang xây lại cây cầu này, qua việc đọc và dịch của mình.” Khi gần kết thúc công việc dịch Iona được Jonathan cho biết anh vừa nhận được một bức thư yêu cầu của chính quyền Trung Quốc nói anh không được xuất bản quyển tiểu thuyết về Jian và Mu. Vì công việc làm ăn Jonathan không thể làm ngược lại lời yêu cầu này. Ít nhất, theo Jonathan cũng phải “treo” dự án này một thời gian chờ tình hình thay đổi. Chính trong giai đoạn này tình trạng gia đình của Jonathan cũng đang trải qua những thử thách lớn: mối liên hệ vợ chồng của anh đang tan vỡ. Iona chua xót nhưng cũng chưa chịu bỏ cuộc dự án dịch thuật. Một vài tình tiết khác về Mu và Iona: Sau chuyến lưu diễn ở Mỹ Mu trở lại Trung quốc, về quê sống với cha mẹ một thời gian những mong có thể quên hết mọi sự. Cha của Mu sau nhữgn ngày cố gắng chống chỏi vói bệnh ung thư đã từ trần. Những khi hai mẹ con trò chuyện mẹ Mu dục cô phải lo việc lấy chồng nhưng cô giả lơ. Bà cũng tỏ ý không đồng tình với cuộc tình của Mu và Jian. Một bữa nọ có một người bạn thời hàn vi của cha Mu ghé thăm mẹ con cô. Hiện nay ông ta là một đại gia chủ một hãng tàu lớn có nhiều chi nhánh trên thế giới và ông đề nghị Mu làm việc cho một chi nhánh của hãng sắp mở ở London. Phần Iona cô cũng nhân cơ hội chưa cần hoàn tất gấp việc dịch nên về quê thăm mẹ ở Scotland. Mẹ Iona cũng nhắc nhở cô con gái nay đã ngoài ba mươi chuyện hôn nhân nhưng Iona nói lảng sang chuyện khác. Trở lại London, bị ám ảnh về số phận của Jian và Mu cũng như vì đã nhấn mình quá sâu vào truyện tình đau khổ của hai nhân vật này Iona tiếp tục dịch những trang nhật ký cuối cùng của Jian. Vì vẫn có ý định truy tìm tung tích Jian nên Iona cố tìm tòi trong những tài liệu xem có thông tin nào có thể là đầu mối cho việc truy tìm này không và Iona bỗng chú ý đến hai giòng chữ nghiêng ngả viết tháu khó đọc và đầy bí ẩn trong một đoạn nhật ký ngắn ngủi trong đó Jian có nhắc đến màu xanh tinh khiết của biển. Sau khi dịch hai giòng chữ này theo nhiều cách khác nhau những mong sẽ tìm được chi tiết nào đó về chỗ ở hiện nay của Jian bỗng Iona chợt nhớ đến ở một đoạn nhật ký khác Jian kể lại câu truyện anh và Mu thời hai người mới yêu nhau: Khi Mu và Jian bàn về một nơi nghỉ mát lý tưởng cô muốn cùng Jian trong tương lai sẽ cùng nhau du lịch tới nên Mu mở một tấm bản đồ để tìm nơi lý tưởng đó. Biết Jian rất yêu thích biển và hải đảo nên Mu chỉ vào một vùng quần đảo trên bản đồ và hỏi Jian thích tới thăm hòn đảo nào. Vì anh không thể quyết định, hơn nữa anh cũng không biết tên những hòn đảo này trên bản đồ nên Mu bịt mắt anh lại và hướng dẫn ngón tay anh trên vùng đảo để Jian tình cờ chỉ vào một hòn đảo nào đó thì hòn đảo này sẽ là nơi hai người sẽ tới trong tương lai. Thật tình cờ ngón tay Jian chỉ vào đảo Crete ở vùng biển thuộc Hy Lạp! Chi tiết này đánh thức sự tò mò của Iona nên cô gọi cho Jonathan và nói với Jonathan giả thiết của mình: hiện nay Jian có lẽ đang ở đảo Crete. Trước khi đi Crete Iona đã tìm đến nhà Mu ở London vì nghĩ Mu hiện đang làm việc cho chi nhánh London của hãng tàu chủ là người bạn đại gia của cha cô nhưng Iona không gặp được Mu. Lên đường sang Crete, tới nơi đã muộn, Iona trước hết lo kiếm khách sạn và ăn uống qua loa rồi nghỉ ngơi. Sáng hôm sau ở một tiệm cà phê tình cờ Iona đọc thấy bản tin trên một tờ báo địa phương loan tải tin tức về một người đàn ông trung niên Trung Quốc chết trôi ngoài biển được một ông lão thuyền chài và người cháu của ông vớt xác người này và báo cho cảnh sát địa phương biết. Lập tức Iona đến đồn cảnh sát hỏi tin tức và khi vào nhà xác để nhận diện người chết đuối cùng vài vật dụng đơn sơ tùy thân trong số đó có tấm thẻ bảo hiểm sức khỏe của già Chang Iona nhận ra đó đúng là xác của Jian. Iona cảm thấy vô cùng hối tiếc vì tự nghĩ nếu cô đến Crete sớm hơn vài ngày hay một tuần có thể Jian đã không tự trầm.Trở lại London, Iona đến nhà Jonathan để báo tin cho anh biết về cái chết của Jian. Không thấy vợ con của Jonathan ở nhà Iona hỏi anh thì được anh cho biết vợ chồng anh đã ly dị. Vợ con anh giờ đây đang ở Ấn Độ sống chung với người tình vốn trước đây là ông thày dạy Yoga người Mỹ của cô ta ở London. I am China kết thúc bằng cuộc gặp gỡ giữa Iona và Mu tại một tiệm sách ở London nơi Mu sẽ trình diễn thơ theo lời mời tha thiết của Mu gởi cho Iona. Những trang chót cuốn tiểu thuyết Quách Tiêu Muội dành cho bản tuyên ngôn của Jian về mối tương quan giữa văn nghệ và chính trị và cho biết hai năm sau đó quyển tiểu thuyết về Jian và Mu đã được xuất bản.

Thế giới của I am China trải rộng liên lục địa: người đọc theo gót Jian và Mu qua ba lục địa từ Trung Quốc (Á châu) qua những xứ Thụy sĩ, Pháp, Anh, Hy Lạp (Âu châu) và Mỹ. Nhưng dưới ngọn bút khá sắc bén của tác giả người đọc có cảm tưởng đó là những thế giới đang tả tơi, rách nát, lạnh lùng chia cách nhau giống như cuộc đời chia lìa của hai nhân vật chính được mô tả trong những bức thư và những trang nhật ký đoạn rời. Sáng kiến đưa ra một kiểu tự sự mới như đã nói ở phần trên Quách Tiêu Lộ cũng cho người đọc thấy quan niệm về thời gian trong tiểu thuyết như một biến tấu quyện xoắn hiện tại và quá khứ và được mô tả bằng một văn tự trong sáng. Người đọc sau khi đọc xong quyển truyện hẳn vẫn còn thấy đọng lại trong tâm tưởng niềm hoài cảm quê hương không rời vây bủa cuộc sống cô đơn của người nghệ sĩ lưu đầy vô xứ.

Năm 2014 giới điểm sách Mỹ liệt kê trên 10 tiểu thuyết đáng chú ý gồm hai tập truyên ngắn của hai tác giả quen thuộc Lydia Davis (dịch giả cuốn đầu Swann’s Way trong bộ À la recherche du temps perdu của Proust, dịch những truyện kể và khảo luận văn chương của Maurice Blanchot) và Lorrie Moore, hai tiểu thuyết viết về di dân (Dinaw Mengestu và Christina Henriquez) tuy di dân đã là một đề tài nhàm chán nhưng vì ở các đại học Mỹ có chương trình Asian-American Studies Program nên các nhà xuất bản hy vọng sách viết về chủ đề này bán được, bốn tiểu thuyết (David Mitchell tác giả Anh đã được biết đến qua những tiểu thuyết trước đây, Marilyn Robinson, Coln Tobin đều là những nhà văn Mỹ đã thành danh) và quyển ‘F’ của Daniel Kehmann một tác giả trẻ người Áo tuy là truyện dịch nhưng lại được yêu thích. Không thấy có sách mới của những đại thụ như Thomas Pynchon, Don DeLillo, và Jonathan Franzen cũng không có sách mới. David Foster Wallace thì đã tự sát khi ở tuổi trung niên mấy năm trước đây. [Quyển Freedom của Franzen tuy được trao giải lớn nhưng không có gì đặc sắc so với những tiểu thuyết anh viết trước đó. Tôi đã đọc Freedom của Jonathan Franzen – được coi là #1 National Bestseller – và thấy nhận xét của Quách Tiểu Lộ rằng văn chương Mỹ được đánh giá, sắp hạng quá cao khá đúng cho trường hợp quyển Freedom. Thế nhưng tôi cũng muốn rộng lượng hơn trong việc đánh giá quyển tiểu thuyết này. Vì tôi muốn chia sẻ sự mất mát lớn lao của JF khi người bạn thiên tài văn chương anh ngưỡng mộ và thân thiết David Foster Wallace tự vẫn vào năm 2008 khiến anh xuống tinh thần trong một thời gian dài (Xem bài tưởng niệm DFW của JF trong Farther Away, xb 2011 trang 163-168). Còn nhận xét rằng Văn chương Mỹ đã được đánh giá quá cao hẳn QTL có ý ám chỉ trường hợp Jonathan Franzen vả Jhumpa Lahiri như cô đã nói vơai anh trong cuộc thảo luận về văn chương toàn cầu: “JF đã bị văn chương Mỹ làm vấy bẩn (smeared)”. Khi nói vậy có lẽ Quách Tiểu Lộ muốn ám chỉ vụ việc xảy vào ngày 17 tháng Chín năm 2010 khi Oprah Winfrey – nữ siêu sao truyền hình da đen – khen ngợi quyển Freedom và nói sẽ chọn đưa vào Oprah Book Club và việc này khiến Jonathan Franzen ban đầu nổi giận. Nhưng do sự can thiệp của nhà xuất bản sách của JF (tác phẩm nào được Oprah Winfrey khen ngợi số sách bán được sẽ tăng phi mã, như trường hợp Toni Morrison chẳng hạn) ngày 6 tháng Chạp 2010 JF đã xuất hiện trên The Oprah Winfrey Show để quảng cáo cho quyển Freedom! Sau đó hình của Jonathan Franzen còn được đưa lên trang bìa tuần bào Time. Theo chúng tôi thấy giới truyền thông Mỹ mấy năm nay đã đánh bóng JF quá đáng. Thực ra qua cả hai quyển The Corrections và Freedom JF chưa chứng tỏ được nhà văn Mỹ này đã xô đẩy được tiểu thuyết đến một chân trời mới nào. Năm 2013 người đọc Mỹ đã được đọc quyển tiểu thuyết đồ sộ 775 trang khá hấp dẫn (được trao giải Pulitzer) The Goldfinch của Donna Tatt. The Goldfinch thú vị đối với những người thích đọc truyện dài tình tiết éo le và văn tự sự xuôi chảy. Donna Tatt viết truyện có dáng dấp theo kiểu Dickens, nhưng The Goldfinch đúng ra là một truyện dài hơn là một tiểu thuyết. Nhìn chung văn chương sáng tác Mỹ năm 2014 không có gì đặc biệt.

Cũng như tiểu thuyết “C” của Tom McCarthy (xuất bản năm 2010) một tác giả trung niên người Anh, “F” của Daniel Kehmann nhà văn trẻ tuổi gốc Áo là một truyện đáng đọc. Daniel Kehmann hiện nay được coi như nhà văn trẻ thế giới xuất sắc nên được đón nhận khá nồng nhiệt ở nhiều nuớc trên thế giới ngay từ tiểu thuyết bi hài đầu tiên được dịch sang Anh văn Measuring the World/Đo đạc Thế giới viết về nhà bác học Đức Alexander von Humboldt lặn lội hang cùng ngõ hẻm trên mặt đất để đo đạc những hang động đồi núi mình đã đặt chân tới và nhà toán học Carl Friedrich Gauss, tuy chỉ ngồi nhà nhưng lại nỗ lực mô tả thế giới bằng những công thức toán học khai triển thành những biểu đồ không gian cong để đo lường thế giới. “F” tựa sách có thể là chữ viết tắt của những từ như fake, family, fortune, fraud, fate, feint… Truyện kể về nhà văn không chuyên nghiệp Arthur một buổi trưa rảnh rỗi nọ đưa ba người con trai đi xem Linderman một bậc thầy về thôi miên biểu diễn tài nghệ. Tuy Arthur nhất quyết cho rằng mình không thể bị thôi miên nhưng lại bằng lòng để Linderman thôi miên khiến ông nói ra tất cả những bí mật đời mình. Đêm đó khi trở về nhà Arthur vơ vét hết tiền trong tài khoản gia đình, dắt theo sổ thông hành và biến mất. Một thời gian không lâu sau đó Arthur bỗng nhiên trở nên một nhà văn viết truyện thần bí nổi tiếng trên thế giới (F=fake). Còn Martin, người con trai lớn sau này trở thành một linh mục bất đắc dĩ (F=[without] faith), Eric cậu con thứ nhì trở thành nhà tài chính (F=financier=fraud) vì đầu óc thiếu thực tế và làm ăn gian lận nên phá sản, còn cậu út Ivan theo ngành họa nhưng lại chỉ là một họa sĩ sao chép tranh của người khác (F=forgery). Đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cả ba chàng trai trẻ này có cùng số phận bi thảm. Cuối cùng khi người cha Arthur hiểu ra được “F” có nghĩa là gì thì đã quá muộn. Điều thú vị là độc giả sau khi đọc hết cuốn truyện mới vỡ lẽ rằng tác giả “F” đã bày ra một trận đồ nghi binh, chỉ có mục đích nhử cho người đọc bị đánh lừa mà thôi (F=feint). Cách đặt tên tiểu thuyết “một chữ” cũng đã được một số nhà văn dùng, chẳng hạn trước đây Thomas Pynchon với tiểu thuyết V. (1961). Georges Perec với tiểu thuyết “W” viết về ký ức tuổi thơ, và Tom McCarthy với tiểu thuyết “C” (2010). Thomas Pynchon được nhìn nhận là tiểu thuyết gia tầm cỡ hàng đầu của Mỹ cuối thế kỷ 20, người đã mở đầu cho tiểu thuyết hậu hiện đại Mỹ. Đọc “C” của tác giả trung niên người Anh Tom McCarthy người đọc thấy mình bị lạc vào những biến cố, sinh hoạt hay cảnh thổ vây bủa nhân vật tiểu thuyết quanh chữ “C” như Century, Crefax (tên nhân vật chính), communication, school, children, silence, reconnaissance, prison camp, escapes, Cairo, Empire Wireless Chain… quả thật đó là một trò chơi kích thích và thu hút trí não và người đọc cũng nhận được một phần thưởng đáng đồng tiền bát gạo .

Vì năm 2014 tiểu thuyết Mỹ không có tác phẩm nào xuất sắc nên chúng ta nếu có thì giờ và đam mê tiểu thuyết có thể đọc vài tiểu thuyết đã xuất bản mấy năm trước đây. Gần nhất là trong năm 2013 có hai quyển sách hay: quyển Newlyweds của Nell Freudenberger quyển Night Film của Marisha Pessl (tôi đã giới thiệu Marisha Pessl qua tiểu thuyết Special Topics in Calamity Physics và Nell Freudenberger qua truyện ngắn Letter from the Last Bastion/Thư viết từ Pháo đài cuối cùng trên Gio-O). Quyển The Newly Weds (2010) của Nell Freudenberger là một cuốn sách hay. Nhà văn nữ trẻ tuổi này vốn có cảm tình với dân Á (tiểu thuyết The Dissident xuất bản năm 2006 cũng viết về những nhân vật gốc Á châu) nên đã dựng Newlyweds trên cuộc hôn nhân Mỹ-Bangladesh nên vợ nên chồng qua mạng Internet nhưng cuối cùng vẫn là chia xa: Amina Mazid một thiếu nữ ở thủ đô Dhaka coi việc qua Mỹ sống là một cơ may đổi đời và sẽ tìm được thứ hạnh phúc khác với hạnh phúc có thể có ở quê nhà nên cô quyết định rời bỏ Dhaka sang sống ở Rochester, New York, với một thanh niên Mỹ tên Georges quen biết nhau trên mạng. Phần Georges anh cảm thấy hài lòng lấy được người phụ nữ “thẳng thắn”, “không play games” như những phụ nữ khác anh từng quen biết ở Mỹ. Sống chung cả Amina lẫn Georges tưởng rằng có thể bỏ lại quá khứ sau lưng để xây dựng hạnh phúc. Thế nhưng mọi chuyện không xảy ra như họ nghĩ. Chỉ đến khi Amina bỏ lại nuớc Mỹ sau lưng và trở về Bangladesh hai người mới hiểu được một trong những lý do chia lìa là những điều bí ẩn họ đã không chia sẻ với nhau. Những áp lực của đời sống ở Mỹ, những khác biệt văn hóa ngôn ngữ Amina đã cố gắng nhọc nhằn vượt qua, tình yêu không thẳng thắn của Georges và sự thân thương không thể đánh mất với gia đình thân thuộc ở quê nhà cũng là những lực đẩy Amina quyết định trở về quê hương. Đại dương mênh mông trước sau vẫn là khoảng cách không thể nối liền Amina với Georges hai kẻ mãi mãi mỗi người đứng trên mỗi bờ đại dương. Marishe Pessl với Night Film cho thấy có nỗ lực đổi mới tiểu thuyết. Night Film được viết như một tiểu thuyết trinh thám, tác gia thay đổi lối tự sự bằng cách xen vào những trang viết trong ruột quyển truyện khá nhiều hình chụp những tài liệu thông tin rất có thể là được sao chép từ nhiều nguồn khác nhau và cũng rất có thể tác giả dùng kỹ thuật PhotoShop ngụy tạo. Night Film viết về cuộc đời đầy bí ẩn của nhà sản xuất phim kinh dị nổi tiếng Stalinas Cordova. Trong truyện tác giả trưng ra những hình ảnh, những tài liệu thông tin khiến người đọc tưởng là có thực với nguồn trích dẫn đáng tin cậy. Người quyết tâm theo đuổi để khám phá cuộc đời bí ẩn của Cordova là ký giả điều tra Scott McGrath của tạp chí Insider. Anh chàng ký giả này điên cuồng lao vào cuộc điều tra này vì động cơ chính là để trả thù: ngày 12 tháng Năm 2006 ký giả này xuất hiện trên chương trình truyền hình Nightline lên án Cordova là một kẻ phạm tội ăn thịt người và đòi pháp luật trừng trị Cordova. Nhưng chỉ hai ngày sau khi chương trình truyền hình này được phát một vụ kiện Scott McGrath đòi bồi thường bạc triệu vì tội phỉ báng được các luật sư của Cordova nộp tại tòa. Vụ kiện sau đó được dàn xếp bên ngoài tòa án vì những chứng cớ người ký giả này trưng ra ở tòa được cho là có “nguồn từ bên trong” gia đình nguyên cáo nhưng thật ra lại chỉ hoàn toàn được bịa đặt bởi một người tài xế cũ của Cordova. Vụ kiện tuy được cho chìm xuồng nhưng hậu quả cũng không phải là nhỏ: Scott McGrath bị tạp chí Insider cho nghỉ việc và cuộc đời anh ta trở nên thân tàn ma dại. Phần kết truyện rất ly kỳ xin để độc giả tự tìm thấy trong Night Film! Nell Freudenberger và Marisha Pessl là những nhà văn nữ Mỹ có nhiều triển vọng và chúng ta chờ được đọc những tiểu thuyết mới của họ trong những năm tới. Điều đáng ngạc nhiên khi đọc những bài điểm sách quyển Night Film của Marisha Pessl những người điểm sách Mỹ chỉ biết khen chỗ này chê chỗ kia nhưng lại không đọc Marisha Pessl từ Special Topics in Calamity Physics sang Night Film để nhận ra ý định xô đẩy tiểu thuyết, thoát khỏi tiểu thuyết cổ cũ để tìm ra một chân trời mới cho tiểu thuyết của Marisha Pessl . Thật ra lối viết tiểu thuyết xen vào những trang không phải văn tự sự mà là những trang hình ảnh hay những mẩu giấy viết tay trước đây đã được một vài nhà văn sử dụng với những dụng ý khác nhau, chẳng hạn như W.B. Sebald. Cùng với hai nhà văn nữ này bậc đàn chị Jennifer Egan đã thử nghiệm cách viết tiểu thuyết-album bằng cả kỹ thuật PowerPoint trong quyển A Visit from the Goon Squad/Một cuộc viếng thăm đội [khủng bố biểu tình của công nhân do các chủ nhân] thuê để mô tả tình cảnh tự hủy của con người hôm nay cũng như niềm khao khát được cứu rỗi và sự xoắn quyện của âm nhạc với thời gian. Xin báo động: Computer đã xâm nhập tiểu thuyết!

Quyển trường thiên tiểu thuyết được dịch sang Anh văn Parallel Stories 1133 trang của nhà văn Hungary Péter Nádas xuất bản năm 2011 xứng đáng là một tiểu thuyết tầm cỡ nhất của vùng Đông Âu từ ngày chế độ cọng sản xụp đổ. Theo lời Péter Nádas, ông đã bỏ ra 18 năm để hoàn thành quyển tiểu thuyết này. Năm 1997 khi bản dịch Anh văn quyển A Book of Memories của Péter Nadas được phát hành ở Mỹ Susan Sontag cho đó “là quyển tiểu thuyết vĩ đại nhất được viết ra ở thời đại chúng ta.” Thời gian truyện Parallel Stories kéo dài 70 năm từ 1939 (thời điểm Âu châu rúng động vì chiến tranh sắp xẩy ra) cho đến 1989 là năm Bức Tường Berlin bị phá xụp. Truyện xoay quanh cuộc đời ba nhân vật chính: Hans von Wolkenstein có người mẹ từng hợp tác với mật vụ phát xít Đức, Ágost Lippay Lehr có cha phục vụ nhiều chế độ chính trị khác nhau ở Hungary, và András Rott có hồ sơ đen về những hoạt động đầy bí ẩn ở hải ngoại. Cuộc đời của ba nhân vật này nằm trong một mạng thảm kịch kết nối nhau bởi những biến cố chính bắt đầu từ Mùa Xuân năm 1939 kéo dài qua thời gian của sự chết chóc 1944-1945 khi Budapest sống dưới tình trạng giới nghiêm kéo dài, người Hung gốc Do thái bị đưa vào lò thiêu, những năm Hungary dưới sự cai trị độc tài cọng sản, cuộc Cách Mạng Tháng Mười 1956 bị xe tăng Liên xô tiến vào Budapest nghiền nát một cách tàn bạo. Người đọc theo dõi lộ trình của ba nhân vật này từ Berlin, Moscow tới Thụy sĩ và Hòa Lan, từ Địa Trung Hải sang Bắc Hải, từ làng này sang làng khác, thành phố này sang thành phố khác ở Hungary trong những hoàn cảnh chính trị biến động làm thay đổi cuộc đời họ dưới những dạng thức thật khác biệt. Tuy tác giả cho rằng đây là những truyện song hành như tên quyển tiểu thuyết nhưng thật ra chúng được viết không song hành mà hội tụ rồi phân tán, phủ chụp, chạy vòng và xen kẽ nhau trong cấu trúc mở của quyển truyện như lời những nhân vật truyện: “Bằng hư cấu người ta dựng nên một thế giới dễ đoán biết hơn, và rồi người ta không có thì giờ để ý xem thực sự cái gì đang xảy ra, bởi tiếng ồn do những ngóng đợi của người ta đang đổ ập xuống”, “Tôi hồi ức mọi sự không phải một cách họa hoằn nhưng là đồng thời: mọi sự xảy đến với tôi cùng một lúc”, “Mọi thứ cùng nhau ở trong đầu óc tôi nhưng chúng lại không có những mối liên lạc nội tại”. Những phát biểu này nói lên khá rõ rệt chủ ý của tác giả khi qui chiếu hay mô tả những biến cố lịch sử với mối quan tâm duy nhất về những ảnh hưởng của chúng trên việc tạo nên trạng thái ý thức vừa bị ám ảnh vừa bị xao lãng của con người. Tuyến tự sự thông thường cổ cũ của tiểu thuyết bị tác gia dứt khoát chống đối và phá bỏ, và khi đọc hết quyển truyện người đọc cũng không thấy có kết thúc. Chính vì cấu trúc kiểu này của Parallel Stories nên tóm lược truyện một cách thông thường hầu như là bất khả. Những cảnh xảy ra trong truyện nhiều lúc như đồng thời xảy ra, và tác giả đã tập trung khá nhiều vào những cảnh làm tình tăm tối nhưng lại được mô tả cực kỳ chính xác tỉ mỉ nhiều khi dẫn đến sự bi hài bất ngờ của kiếp nhân gian. Sở dĩ Péter Nádas dành nhiều trang, nhiều đoạn dài mô tả hành vi tình dục vì ông coi sự ám ảnh về hoạt động của thân xác và tình dục là phổ biến. Với tuyến tự sự thời gian bị xáo trộn sau trước trước sau tác giả xếp đặt những chương truyện nhảy nhót giữa những giai đoạn lịch sử như thời Quốc xã ở những năm 30s và 40s được xếp liền với giai đoạn lịch sử Hungary những năm 60s qua những chớp mắt nhìn lại quá khứ của những xứ Trung Âu rồi lại chuyển hướng cái nhìn về phía trước từ giai đoan hậu-cọng sản, hậu-hiện-đại của nước Đức hôm nay trở ngược thời gian về thời Quốc xã với mục đích phô bày khả năng giết người vô tận của con người, tiêu biểu nhất là thảm họa Lò thiêu. Dưới mắt Péter Nádas thế giới là hỗn mang, sống ở đời không dễ có được những quyết định dứt khoát, những kết cục có hậu mà chỉ thể có những khả hữu trêu ngươi, nhử dụ con người. Parallel Stories đòi hỏi người đọc kiên trì, đọc từng chương chậm rãi trong một thời gian dài. Và cũng vì điều này nên quyển truyện mất bớt sự hấp dẫn thú vị đối với người đọc bình dân có thị hiếu đọc truyện để sớm biết cốt truyện. Có người cho rằng Parallel Stories là đồng loại với những khủng long thế kỷ 20 do Marcel Proust (À la recherche du temps perdu), James Joyce (Ulysses, Finnegans Wake), Robert Musil (The Man without Qualities), Thomas Pynchon (V., Gravity’s Rainbow, Against the Day, Mason & Dixon), Arno Schmidt (Zettel’s Traum/Bottom’s Dream), William Gaddis (JR, The Recognitions)), John Barth (The Sot-Weed Factor, Giles Goat Boy…), Joseph McEllroy (Women & Men), William H. Gass (The Tunnel), Don DeLillo (Underworld), David Foster Wallace (Infinite Jest)… đã sáng tạo ra.

Nhìn sang sinh hoạt văn chương Pháp năm 2014 có hai sự kiện đáng chú ý: Patrick Modiano được trao giải Nobel Văn chương (truớc đó nhà Gallimard vào tháng 10 đã cho ra mắt tiểu thuyết mới Pour que tu ne perdes pas dans le quartier của Modiano) và tiểu thuyết Pas pleurer/Đừng khóc của Lydie Salvayre (do nhà Seuil xuất bản) được trao giải Goncourt. Không chắc việc trao giải Nobel Văn chương cho Patrick Modiano có làm hồi sinh được sinh hoạt văn chương không mấy sôi động ở Pháp hiện nay so với thập niên đầu thế kỷ 21 không. Nhà văn hay gây ra tranh cãi tai tiếng Michel Houellebecq sẽ cho ra mắt vào đầu năm 2015 quyển Soumission và nhà xuất bản quyển này hy vọng sẽ đạt số sách bán cao nên đã bắt đầu khua chiêng gióng trống. Những người viết tiểu thuyết tạo được tiếng tăm trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 ở Pháp như Jean Echenoz, Jean-Philippe Toussaint, Marie Redonnet, Christian Gailly, Patrick Lapeyre, Hélène Lenoir, Christine Montalbetti…xem chừng hiện đã chùng tay. Nhìn chung những tiểu thuyết Pháp từ thập niên 70 trở đi ít cuốn dầy quá 350 trang, phần đông chỉ từ 150 đến trên 200 trang chút đỉnh. Jérôme Lindon chủ nhà xuất bản Minuit cho biết một quyển tiếu thuyết in ra bán được 20.000 bản nhà xuất bản mới chỉ hòa vốn. Ngay như tiểu thuyết của Patrick Modiano do nhà Gallimard xuất bản thường chỉ trên dưới 200 trang. Nhà Flammarion in truyện của Michel Houellebecg chữ cỡ lớn hơn (cho dễ đọc?) nên quyển La carte et le territoire mới dầy tới 428 trang. Xem ra chỉ những nhà xuất bản lớn ở Mỹ còn có khả năng cho xuất bản những tiểu thuyết “khủng long” từ trên 700 trang tới trên 1000 trang! Và ở Mỹ một tác giả tiểu thuyết có tác phẩm bán được 100.000 cuốn hoặc hơn (một điều không hiếm) sẽ có tiền để sống trong 2, 3 năm mà không phải kiếm việc làm khác nên có trọn thì giờ dành cho sáng tác.

Tiểu thuyết Pas pleurer/Đừng khóc (Seuil, 274 trang) của Lydie Salvayre: truyện bắt đầu vào mùa Hè năm 1936 mấy tháng trước khi cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha bùng ra. Tác gia đưa vào truyện hai tiếng nói đan chéo nhau, hai viễn kiến (visions) đối nghịch: bạo động và thanh thản, tàn bạo và sang cả. Đó là tiếng nói chống đối của nhà văn Ky-tô hữu phái Pháp Georges Bernanos người trực tiếp chứng kiến cuộc nội chiến Tây Ban Nha và những hành động tàn bạo của Franco đã ghi lại trong cuốn nhật ký Les grands cimetières sous la lune/Những nghĩa địa rộng mênh dưới ánh trăng (xuất bản năm 1938) gây sì-căng-đan. Bernanos đã chứng tỏ lòng can đảm khi cương quyết cho xuất bản cuốn nhật ký này ở vào giai đoạn đa số người ở Pháp cố tình làm ngơ trước những hành động khủng bố tàn bạo của Franco và cũng tránh né đề cập tới việc Giáo Hội La Mã không những đã thỏa hiệp mà còn ủng hộ và cộng tác với Franco. Tiếng nói thứ hai là của bà Montserrat Monclus Arjona – thường được gọi tắt là de Montse là mẹ của tac gia. Thời trẻ tuổi bà sống trong một ngôi làng nhỏ có cuộc sống êm đềm ở Haute Catalogue. Trước khi chiến tranh xảy ra nước Tây Ban Nha cổ cũ đang dần dần suy tàn. Khi đó giới quí tộc còn gọi những tiện dân như mẹ của tác gia là “mauvaise pauvre/kẻ nghèo hèn xấu xa” có nghĩa bà là một phụ nữ tuy nghèo hèn nhưng lại dám mở miệng, lên tiếng. Nếu không có biến cố lịch sử trọng đại nào thì cô de Montse rồi ra cũng lấy chồng đẻ con sống cuộc sống bình thường như hầu hết phụ nữ bình dân khác. Thế nhưng đã xảy ra một biến cố làm thay đổi cuộc đời de Montse: khi cô đến trình diện để xin việc làm người hầu cho gia đình tộc trưởng giòng họ Burgos cô bị vị tộc trưởng này vô cớ mạt sát, lên án nặng nề. Tuy vốn là người hiền lành khiêm tốn nhưng cô đã không dằn được sự tức giận trước những lời lăng nhục của vị tộc trưởng. Josep anh cô đi cùng cũng nổi đóa lập tức kéo thốc cô ra khỏi nhà vị tộc trưởng và mang cô theo trong chuyến hải hành tới Lérida. Josep anh cô là kẻ có máu giang hồ, lãng mạn, cương cường, trọng danh dự, yêu thích thơ Federico Garcia Lorca, kiếm thuật, nhưng cũng hoài nghi về cuộc cách mạng đang diễn ra. Nhờ rời xa ngôi làng chôn nhau cắt rốn cô có dịp khám phá ra cuộc cách mạng đang xảy ra đã xáo trộn hết thảy mọi thứ. Cô cũng đã nhìn thấy được cuộc sống thực sự khốn khổ của dân nghèo ra sao, đã được nghe những tiếng hô Tự do Muôn năm cuồng nhiệt từ cửa miệng đầy phẫn nộ của những “mauvais pauvres” đang lan tỏa trên nhiều miền đất nước từ tỉnh đến quê. Và thế là cuộc đời của cô bị lịch sử cuốn xoáy, làm thay đổi hoàn toàn. Bảy mươi năm sau khi kể lại đời mình cho con gái (Lydie Salvayre, tác giả) nghe bà dường như muốn xóa sạch hết mọi kỷ niệm hãi hùng khổ đau đã phải trải qua trong ký ức thời trẻ ngoại trừ kỷ niệm về những ngày khởi đầu tuyệt vời của cuộc cách mạng nổi loạn đòi tự do của những người nghèo khổ xấu xa. Điều lý thú về Lydie Salvayre: Pháp ngữ là sinh ngữ thứ hai và sinh ngữ thứ nhất là tiếng Tây Ban Nha (cha mẹ bà là người Tây Ban Nha tới tỵ nạn ở Miền Nam nước Pháp từ năm 1936) nên tác giả cho rằng mình đã viết tiểu thuyết này bằng một thứ “frañol” nghĩa là có chêm vào bản văn tiếng Pháp khá nhiều những từ/chữ Tây Ban Nha, chẳng hạn moleste, raccorde, panadis, mirades, ser alguien, infelices v.v…trong lời kể của mẹ tác gia vì bà đã dùng thứ ngôn ngữ hàng ngày tuy pha trộn tiếng Pháp với tiếng Tây Ban Nha nhưng lại rất tinh tế sang trọng.Trước khi viết văn Lydie Salvayre là bác sĩ tâm lý trị liệu thiếu nhi hành nghề ở Paris, hành trạng văn chương của bà khá tương tự hành trạng văn chương của Julia Kristéva.

Những nhà xuất bản cạnh tranh nhau cho ra đời tác phẩm của những tác giả mới giai đoạn thập niên đầu của thế kỷ 21 như Minuit, Gallaimard, P.O.L., Seuil, Albin Michel… mấy năm gần đây tuy vẫn năng động giới thiệu những tác giả trẻ nhưng đa số các tác giả có sách xuất bản trước đây và đã thành danh nay đã xấp xỉ trên sáu mươi. Jean Echenoz nhà văn hàng đầu thuộc thế hệ này năm 2014 chỉ có tập truyện ngắn Caprice de la reine (Minuit) và năm 2013 là Le meridien de Greenwich. Tôi thích đọc Jean Echenoz hơn Patrick Modiano. Cũng trong năm 2014 quyển Charlotte của David Foenkinos đoạt giải Renaudot, Christine Montabetti cho ra mắt Plus rien que les vagues et le vent (P.O.L.), tiểu thuyết Au revoir là-haut của Pierre Lemaître (Albin Michel) được trao giải Goncourt. Năm 2013 Académie Française đã trao giải cho một quyển tiểu thuyết không có gì đặc sắc Plonger của Christopher Ono-Dit-Biot.Về sách khảo luận văn học đáng kể nhất là quyển Le défi du roman của Elisa Bricco viết về tiểu thuyết ngày nay và quyển khảo luận của Linda Lê Par ailleurs [exils] viết về những nhà văn “ngoài vòng pháp luật” (hors de la loi) buộc lòng phải sống lưu đầy khỏi xứ sở của mình như kẻ xa lạ trên quê người. Linda Lê cũng cho xuất bản tiểu thuyết Œuvres vives kể truyện về sự khám phá một tác phẩm của nhà văn bí mật Antoine Sorel do một ký giả trẻ tuổi nhân khi đến Havre. Sau khi đọc tác phẩm này người ký giả trẻ tuy có rất ít thông tin về tác giả quyển sách nhưng lại bị ám ảnh về cuộc đời tác giả nên muốn tìm hiểu. Nhưng ngay ngày hôm sau khi khám phá ra tác phẩm này người ký giả được biết Antoine Sorel vừa từ trần khi mới chỉ bốn mươi tuổi. Để trả món nợ của một độc giả và cũng để nhớ lại lời Sorel trong quyển truyện cho rằng cái chết không phải có lời nói chót cùng trong văn chương, người ký giả trẻ tuổi này tìm gặp những thân nhân, những phụ nữ Sorel đã yêu để viết một quyển sách như một ngợi ca dâng tặng (hommage) Antoine Sorel. Œuvres vives là một tiểu thuyết về những cô đơn và cuộc truy tìm những nguồn gốc của nhà văn lưu đầy vô xứ nhằm nói lên sự nhiệt thành và sức mạnh của hồi sinh. Năm 2013 Linda Lê cũng có tiểu thuyết Lame de fond được vào chung kết giải Goncourt. Vào cuối năm nhà văn nữ Trần Minh Huy cũng cho xuất bản tiểu thuyết Voyageur malgré lui viết về cuộc đời một gia đình Việt di dân giống như những kẻ du lịch bất đắc dĩ.

__________________________________

(*) Một vài thí dụ điển hình: James Joyce: kỹ thuật đột hiện (technique épiphanique): đột hiện theo Joyce được hiểu theo nghĩa sự phơi mở đột nhiên thể tính (quiddité) của một sự vật xảy đến với nhà văn, ở những khoảnh khắc ẩn mật. Chính vì để mô tả được những khoảnh khắc sự vật đột hiên này Joyce đã đưa ra một lối viết cực kỳ tỉ mỉ tràng giang đại hải chạy theo đường vòng bất tận. Trước đây có nhiều người cho rằng tiểu thuyết của Joyce mô tả “dòng chảy ý thức” (stream of consciousness) nhưng những nghiên cứu giá trị của Richard Ellman và Hélène Cixous trong thập niên 70s cho thấy đó là một cái nhìn thô thiển; Marcel Proust: Theo Barthes, À la recherche du temps perdu là hồi tưởng những khoảnh khắc của chân lý (Moments de vérité), Proust chủ yếu mô tả sự Chết đi (Mourir) qua những khoảnh khắc của Cái Chết (La Mort), và những khoảnh khắc thực hư của Tình yêu (L’Amour); Franz Kafka: Ham muốn duy nhất trong đời: Viết, dù cho sự ham muốn này tranh chấp, đối nghịch với đời sống của chính mình (thế giới, việc làm, hôn nhân…), nhiều khi viết trong sự sợ hãi viết, trong cô đơn tuyệt cùng và trong niềm kiêu hãnh cũng như sự khốn khổ về tài năng văn chương của mình, coi viết như tự cứu, đưa đến cảm thức khổ nạn của căn nghiệp không rời bỏ được văn tự; William Faulkner: Tác phẩm thứ chín Absalom, Absalom! được những chuyên gia nghiên cứu Faulkner cho là tác phẩm xuất sác nhất của Faulkner về cả ba phương diện câu văn, chương truyện, và cấu trúc quyển truyện: tác giả đã muốn người đọc leo từng mốc này sang mốc kế tiếp do tác giả bố trí sẵn trên sườn núi. Những mốc leo này càng ngày càng cao cho đến nút cuối thứ chín làm người đọc tuy chóng mặt nhưng cảm thấy hào hứng thích thú do cường độ của cấu trúc quyển sách kích hoạt; Jorge Luis Borges: thế giới của tiểu thuyết là một mê cung với những con đường chia ngả; Vladimir Nabokov: kiệt tác Pale Fire/Lửa nhạt là một thách thức người đọc đi tìm, nhận diện nhân vật tiểu thuyết (tryện có một hay hai nhân vật chính?) và nhận ra đâu là thực đâu là ảo không phải trong lần đọc đầu tiên nhưng trong những lần đọc lại quyển truyện: những khám phá đầy kinh ngạc của người đọc sẽ đưa đến kết luận về một lý thuyết đọc văn của Nabokov ẩn chứa trong quyển tiểu thuyết này. Brian Boyd nhà chuyên khảo Mỹ hàng đầu về Nabokov cho rằng theo Nabokov đằng sau sự không thể vét cạn, sự phức tạp và bí ẩn của thế giới là sự khoan dung vô lượng; Samuel Beckett: Trong suốt quyển L’innommable Beckett không cho biết phái tính của nhân vật tự sự xưng “tôi” – chỉ biết nhân vật này chứa ở trong đầu một tiếng tiếng nói này “tôi” không biết là của mình nhưng được tiếng nói làm cho “tôi” nghĩ là của mình kể lể mọi sự việc trong đầu “tôi”, nhưng tôi lại như con lạc đà khát nước trong sa mạc quên hết mình đã nói gì hay đúng ra chẳng nói gì và tất cả những cái đó “hoàn toàn chỉ là những lời nói dối cho vui theo qui định.” Về nơi chốn của tiểu thuyết Beckett cho biết ngay sau câu văn cuối cùng có chấm câu: “Nơi chốn, tôi sẽ tạo ra nơi chốn đó cũng giống vậy, tôi sẽ tạo ra nơi chốn đó trong đầu tôi, tôi sẽ rút nơi chốn đó ra từ ký ức của tôi, tôi sẽ gom góp nó toàn về mình, tôi sẽ làm tôi thành một ký ức, tôi sẽ chỉ phải lắng nghe thôi, tiếng nói sẽ nói cho tôi biết mọi sự…Tôi phải tiếp tục, tôi không thể tiếp tục, ngươi phải tiếp tục, tôi sẽ tiếp tục, ngươi phải nói những chữ ra, chừng nào còn chữ, cho tới khi những chữ tìm thấy tôi, cho tới khi những chữ nói tôi, sự đớn đau lạ lùng, tội lỗi lạ lùng, ngươi phải tiếp tục, có lẽ đã xong xuôi cả rồi, có lẽ những chữ đã nói tôi rồi, có lẽ chúng đã mang tôi tới ngưỡng của câu chuyện của tôi, điều này sẽ làm tôi ngạc nhiên, nếu câu chuyện mở ra, câu chuyên đó sẽ là tôi, câu chuyện đó sẽ là niềm im lặng, nơi tôi ở đó, tôi không biết, ngươi phải tiếp tục, tôi không thể tiếp tục, tôi sẽ tiếp tục”; Georges Perec: dùng kỹ thuật thiết kế và sắp đặt trò chơi puzzle thành những chương sách của tiểu thuyết La vie mode d’emploi: tự nó mỗi miếng puzzle không có ý nghĩa gì nhưng khi được lắp vào một hay nhiểu mảnh khác sẽ có ý nghĩa. Quyển tiểu thuyết gần 700 trang này Perec đã bỏ ra chín năm để hoàn thành là một tiểu thuyết khác thường và có tầm quan trọng lớn trong việc tạo ra một diện mạo mới cho tiểu thuyết nửa sau thế kỷ 20.

đào trung đạo

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s