QUÊ NHÀ : Phần 1 (Nguyễn Quang Tuyến)

Giọng nói quê mình sao mà ngọt ! Sao mà chân chất nghe mà “sướng cả tâm can!”., chú tôi thổ lộ khi nói về quê mình.

Ông chú họ của tôi xa quê nghèo xứ Quảng cũng đã trên năm mươi năm, hơn nửa đời người sống chen chúc trong một xóm nghèo Saigon, bây giờ đã có con đàn cháu đống. Vậy mà vẫn thao thức “tư cố hương” (ngưỡng đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương ).

Ai nói chuyện khi ông gặp , hay cần việc giao dịch với ông, chỉ mở giọng nói, âm ngang ngang “oa, oa” của dân quê gốc Quảng, là coi như việc đã qua được hơn nửa đoạn đường, việc giao dịch coi như đã được một nửa thành công.

Hơn nửa đời người lăn lộn đất khách “tha phương cầu thực”, con cháu ông nay đã thành danh không ít, vậy mà ông chú, nay dù đã ngoài bảy mươi, vẫn như ngày xưa ấy, như cái thuở :

– “Tụi bay đâu có biết, ngày nớ, trước năm năm-tư, Phú Nhuận, Gò Vấp còn là ngoại ô, thưa người, ruộng xanh, gò nổi. Chiều chiều xe ngựa lặc lè, chạy gót gõ bộp bộp buồn da diết. Ối cha ơi! Dân quê mình nhào vô, tụ lại kiếm sống. Đất rộng người thưa, phố hẹp vậy mà “sô”, hồi mới nó “doạt doồ” (dạt dào) tình cổm (cảm) lắm bay ơi !

Bi chừ, reng mà lọa (sao mà lạ). Đông hơn, giàu có hơn, mà ai ai cứ như đang diễn tuồng trên sân khấu! Lọa quá bay à!

Ông chú, cứ ngày ngày, có dịp là so sánh ngày nớ với bây chừ; so sánh quê mình với “quê nẩu” (người ta); và câu kết luôn là :

Chi mà lọa rứa be! (Chi mà lạ vậy tụi bay).

Mỗi đám giỗ họ là ông phải về quê, con cháu mua vé máy bay để ông đi cho khỏe, nhưng ông không chịu, ông thích đi xe đò, thích ngồi bên thành cửa nhìn những vùng quê xe chạy qua. Ông thích nhìn những người bán hàng rong, tay bưng rổ quà, áp sát thành xe, rao bán bằng tiếng quê mỗi nơi.

Be à ! Ngày đó tao đi xe Phi Long Tiến Lực vô Saigon lập nghiệp, bó một bó, nào thước gỗ, nào cưa, đục, chàng, bay, xoa (dụng cụ thợ mộc, thợ nề), cột trên mui xe, cứ rứa , cứ rứa, tiến vô trong lập nghiệp.

Chao ôi! Qua Quảng Ngãi thì “Ai, ai , moạch nhoa, đường phổi hông !”; đến Tam Quan, Diêu Trì thì “Ghè, ghè đây bè coong ôi! Trứng ghè luộc !, trứng ghè luộc ! …”. Ôi, chỗ , có giọng đó, có hàng hóa đó, có nước da ngăm ngăm, có mùi muối, mùi biển, mùi gió cát …chỗ đó.

Chao ôi, ngồi bên thành cửa lột cái bánh ít lá gai, hay củ khoai từ chợ Được, chợ Bà Rén…., chất bột dẻo quánh dính trên ngón tay, đen thủi. Cặp mắt con bé bán khoai ngơ ngơ, ngáo ngáo, như cầu xin thương xót… Sao mà thương quá à !

Bi chừ thì khác xa, người bán, người mua chạy ào ào, la lối, nói cười ngả ngớn (ngả nghiêng?) ! Lâu lâu có con nhỏ vừa bán hàng, vừa lủng lẳng dây nghe nhạc bên tai, hay điện thoại di dộng a-lô liên hồi.

Bi chừ khác lắm bay à! Cái ăn uống tiêu xài đã khác, của cải tiêu dùng đã khác, bánh trái có giấy bọc đỏ đỏ, xanh xanh…cũng khác trước! Tau nhớ củ khoai từ, mấy nuột khoai mì trằng thon thon, mấy củ môn sáp vàng óng ăn với đường phổi…, tau nhớ đĩa cơm ở Tam Quan trắng hồng lúa quê trên có đùi gà ram vàng, tau nhớ những tiếng rao tha thiết “ Ơ trứng ghè luộc ơ…”. Tau nhớ tiếng rao cộc lốc của người Chăm khi ngang qua Cà Ná “Bánh Khảo mè nê!” …Cái từ nê, nê kéo dài phất phơ đâu đó trên cái thúng đội đầu…Cái áo dài Thổ Cẩm màu vàng đỏ ….Ôi tau nhớ… Tau nhớ….

Tuổi càng già, ông chú lại càng không muốn về thăm quê nữa. Ông ít buồn nói về quê mình, mỗi lần về thăm quê, trở lại Saigon, ông bần thần thở dài suốt mấy tháng. Con cháu gạn hỏi, ông thẫn thờ :

– Ngoài nớ bi chừ chỉ còn mồ mả ông bà, và còn cái nền nhà nơi chôn nhau cắt rún. Làng quê bi chừ không như xưa nữa. Bọn trẻ lớn lên học có chữ thì bỏ đi phương khác làm ăn… không có học thì kéo nhau đi lao động xa quê…

Bi chừ vùng quê chỉ còn những người già nghễnh ngãng ngồi ngoài hiên ngắm cảnh đồng trống quạnh hiu, ngóng chờ con cái đi xa về thăm. Mấy con trâu bò quanh quẩn buồn hiu. Còn xóm chợ nào cũng mở quán ăn nhậu, rượu chè…Chiều chạng vạng là nghe “Zô, Zô” râm ran đầu ngõ, cuối xóm.

Bi chừ đâu còn như xưa, mấy đứa trẻ nhìn tau hỏi xách mé: “Nè, ông gìà, chừ ông tìm ai rứa cà?” Tau đi đầu làng cuối xóm, có ai biết tau đâu.

Hẻm nhỏ ở quê cũ giờ đã đúc bê-tông, dây điện chạy vào đến chân núi, nhà cửa rập rang mái ngói đỏ… Có nhìn kỹ, thấy thiếu bóng người, thiếu bóng sự sống với nụ cười khoái hoạt, mà chỉ còn lại tiếng zô, zô rộn ràng. Trâu bò lưa thưa, đồng ruộng vắng hoe ,không vóc dáng tráng đinh… . Có vài lão ông, lão bà chống cuốc nhìn bóng chiều trĩu nặng cuối dãy Trường Sơn…

Ông chú già ít buồn nhắc tới chuyện về thăm thú quê hương. Cứ chắc lưỡi, mắt nhập nhèm, đăm đăm: “Còn chi mô đâu bay!”

Vài tháng một lần, ông gọi thằng cháu nội chở ông lên ngã tư Bảy Hiền, đi chợ Bà Hoa, trệu trạo nhai tô mì Quảng, rồi trở về. Con cháu hỏi ông, xe cộ đông đúc, sao ông lại chịu khó chen lấn từ Thủ Đức, về đến Tân Bình mà ăn tô Mì Quảng, ông khẻ khàn:

Bay đâu có biết chi về quê nhà xứ mình như tau mà nói ! Tau vô chợ bà Hoa đâu phải để mua chi . Mà tau thấy cái bát đường đen; thấy con cá chuồn thính lấm tấm, lớ thính màu vàng đậu trên màu xanh bạc của thân cá; thấy cái bánh tét,bánh rò, bánh thuẫn, nỡ toét cười, quê mùa, mộc mạc; thấy quả dưa gang muối vàng ươm, sọc xanh xếp lớp nghe như dòn tan trong kẽ răng.

Tròi ơi, bay đâu biết, cả rổ ớt xanh xứ Quảng, thơm cay, mà cay không hổn? Từng hũ mắm cái cá cơm, cá nục nằm trong lọ như sần sật cười nói huyên náo trong thúng trét chai ở chợ vùng ngoài ấy…Tau đi tìm quê nhà nơi chợ xứ xa.

Ôi! Ngôi chợ ni đâu có thiếu thứ gì của chợ ngoài quê mình, tau cầm lọn rau húng nhũi, húng quế mà đã ngầy ngật như say ngất ngây những ngày tháng cũ.

Tau không có mua chi mô, thằng cháu nội theo sau tau, nhìn thấy tau cứ lập cập đi lượm từng chút tình quê trong hẻm chợ. Cháu thấy tau cầm củ nghệ, củ gừng lóng cóng trong tay, chợt hỏi : – “Ở nhà, cháu thấy mẹ cháu mua gừng, nghệ củ to, ưa nhìn lắm, nội ơi.” Tau nói với cháu như lẩm bẩm nói với chính mình : “Mấy củ nghệ, củ gừng to mập, nó tròn trịa mà sao so được với củ nghệ, gừng ngoài quê mình. cháu ơi…!”

-Thuở ông còn nhỏ, giúp cha mẹ xới đất trồng gừng nghệ trên đám thổ đất cát phasét, trời xứ quê “ nắng nóng như nung gió thổi như bung.” mấy nhánh lá gừng, nghệ đương đầu chống chỏi để tồn tại, hơn sáu tháng, từ đông qua cuối hạ năm sau. Vạt củ nghệ, gừng trụi lá, cuốc xới lên rồi bươi, cào, phủi đất, thu lượm được những củ khẳng khiu như thế này, ốm o, gày gò, quả là tội nghiệp cho “thân củ hao gầy trong nắng gió khắc nghiệt” Nhưng cái kết quả cao nhất là “củ gừng cay và thơm”“Củ nghệ đỏ vàng và mùi nồng nàn”. hơn gừng, nghệ ở mọi miền.

Nghệ ấy mà giã ra, ướp ruột già heo hay dồi trường heo, xào hay nướng; ướp cá đồng hay cá biển mà kho với chuối chát. Ngon biết mấy! Củ gừng ấy mà làm mứt ngày Tết, uống trà nóng ngày đầu năm, ôi thấy nồng ấm cả năm.

Những củ nghệ, củ gừng này tượng trưng cho dân quê xứ Quảng là đúng nhất. Chúng mọc lên trong nắng gió, cằn cỗi cố tồn tại và phát triển, giống như những người dân quê xứ Quảng, sống trong cơ cực mà có được ý chí và tâm hồn thơm thảo qua mọi cảnh ngộ.

– Cháu biết không, bây giờ ngoài quê mình, người ta trồng nghệ và trồng gừng trong chậu hay trong bao nylon có phân hỗn hợp trộn sẵn, xếp lớp lớp trên dàn nước phun ; sau bốn tháng thu hoạch hàng chục tấn để xuất khẩu qua Hàn Quốc làm Kim Chi hoặc cho vào máy xắt lát mỏng, trăm lát như một, làm mứt gừng ngày Tết….Gừng nghệ mập ú xuất khẩu như gái quê tỉa tót qua làm vợ xứ Kim Chi, thì còn đâu hương gừng nghệ khẳng khiu mà nồng đậm như ở quê nhà nữa đâu cháu.

– Cháu biết rồi, ông giống như củ nghệ, củ gừng ông đang cầm.

Bà bán rau quả xứ quê, già móm mém, trầu đỏ kẻ chỉ ngang môi cười nhìn ông già :

-Lại một Ông già Quảng nhớ quê !

Ông chú già bỏ mấy củ gừng nghệ vào thúng tre ở hàng tạp hóa, đi với đứa cháu qua đường Đồng Đen vào quán, ngồi nhai lẫm nhẩm, trệu trạo tô mì quảng . Quán ồn ào, dù chỉ có hơn mười người vừa nói vừa vung tay, vừa bẻ bánh tráng rôm rốp:

– Cháu à, nghe giọng nói rộn rả nơi này là ông như đã thấy quê mình .Khi nghe giọng nói của người mỗi miền, ta biết ngay nơi họ sinh ra, và lớn lên trong hoàn cảnh môi trường sống nơi ấy ra sao. Giọng nói mỗi nơi đã là một nửa quê hương.

– Giọng nói địa phương là một nửa quê hương sao ông?

– Lắm khi là cả quê hương, cháu à .Ông nghe giọng Huế , thấy như người nơi ấy lúc nào cũng trĩu nặng vai với quá khứ . Giọng Quảng thì bương bả , chống chỏi với tai ương …sấn về ngày mai.

Một

HỒI- CUNG KHÓC

Phi trường Huế phải ngưng hoạt động sáu tháng để tu sửa. Đường băng được kéo dài theo chuẩn phi trường Quốc tế để máy bay lớn, lên xuống đón lượng du khách số đông đến du lịch cố đô Huế. Trong thời gian tu sửa này, khách Saigon hay nơi khác đến và đi khỏi Huế, đều phải ghé qua phi trường Đà Nẵng. Khách nơi khác đi Huế, hay từ Huế bay đi nơi khác đều có xe trung chuyển riêng của hảng Hàng Không.

Tôi là tài xế xe du lịch trung chuyển khách ở phi-trường Đà Nẵng, sáng đưa, chiều đón khách đi về Đà Nẵng-Huế; và sáng nay tôi phải đón khách ở Huế vào Đà Nẵng cho kịp chuyến bay 11 giờ 30 và chuyến bay đầu giờ chiều.

Đó là cơ duyên tôi được đón và gặp bà Hồi- Cung, ở khu vườn Kim Long. Tôi lái xe qua các khách sạn, nhà ở, đón khách theo từng địa chỉ, theo chỉ định của hãng Hàng Không. Cả tây lẫn ta gồm tám người, khách của hai chuyến bay lúc 11 giờ và 13 giờ 30. Hồi Cung là khách của chuyến bay13 giờ 30. Tôi gọi điện thoại báo đến đón, bên kia đầu máy một giọng nói cao sang và đĩnh đạc của một bà:

– Cô Hồi- Cung đang chờ, cháu đến ngay vườn cây cảnh Trúc Ty, hỏi ai cũng biết. Cô chờ..

Tôi chỉ được biết đi đón một khách nữ, bay chuyến 13 giờ 30 là Thân thị Ngọc Hồi. Thân thị Ngọc Hồi chính là cô Hồi Cung, ngụ tại khu vườn có tên là Trúc Ty, trên đường Vạn Xuân, khu Kim Long.

Qua cầu Kim Long rẽ vào đường Vạn Xuân, vườn cây xanh tiếp nối, tĩnh lặng và khép nép bên nhánh tẻ của sông Hương. Xe dừng từ ngoài lộ, nhìn hai hàng chè tàu thẳng tắp, tỉa tót, đi sâu vào trong cổng vườn Trúc Ty, hàng trúc xanh óng mượt bên cổng cao, vừa hè mở. Cả đoàn năm bảy người, rộn rã, cười nói, một chiếc váy xòe màu hoàng yến đi giữa, khăn lụa hồng cánh sen quàng quanh cổ người đàn bà thanh thanh, bước đi ung dung.

– O nì, đi xa mà gọn nhẹ và thong dong quá. Chỉ có từng ni thôi o ?.

– Rựa là nhiều rồi. Cọ cần chi mô.

Cô cháu đi sau kéo va-li nhỏ gọn, một cô khác thì cầm chiếc dù nghiêng nghiêng che nắng sớm ban mai trong lành đang nhảy nhót trên hàng lá xanh. Nhìn mấy O, mấy cô son phấn nhẹ, líu ríu nói cười làm mình chợt nghĩ đến Hồng Lâu Mộng.

– Mời cô lên xe cho kịp chuyến bay cho khách bay 11 giờ 30. – Tôi cười mời chào – Dạ cô là cô Hồi bay chuyến 13 giờ 30?

Người dàn bà mặc váy hoàng yến, tóc bới cao, chiếc cổ trắng xanh ngẩng lên ngập ngừng nhìn tôi

Mô.. ô ! Cô là Hồi- Cung ! Bà quay về mấy người bạn gái hay bà con đưa tiễn, với tiếng cười trong trẻo tự nhiên “– Nì, thôi Ai da hồi- cung nhe các phi”.

Cả đám các bà ngoài ngũ tuần cười rộ lên.

– Cháu à, o không thể ngồi đằng sau được, o không quen mùi tạp, ngộp thở lắm Một mình o ngồi phía trước cháu nha!.

Bà muốn, bà khẳng định, bà giao hành lỳ cho tôi sắp xếp và bước đến cửa trước đứng chờ. Khuôn mặt thanh thanh, phấn nụ dưới tia nắng sớm mai chéo ngang làm nổi rõ những vết chân chim mà thời gian làm nhàu đi nước lụa đã một thời óng ả. Người này hẳn đã có một thời làm bao kẻ si tình chao đảo !

Bà đứng yên bên cánh cửa, trong khi trên xe đã có một ông khách lớn tuổi đang ngồi, Bà thản nhiên đứng đợi, thản nhiên một cách tự tin chính đáng vào yêu cầu của mình. Tôi năn nỉ bà:

– Ghế trước có người rồi. Cô lên băng sau lẹ để cháu chạy cho kịp. Có nhiều khách bay chuyến mười-một giờ ba mươi.

O nhỏ nhẹ, nói chuyện với mấy người đàn bà tiễn đưa. Bà khách quay lại nhìn băng ghế bên tài xế, nói nhẹ nhàng khoan thai :

O đã nói, o muốn ngồi một mình băng trước. O không chịu được cái mùi tạp của đám đông. Cháu giúp o mà.

Giọng Huế thành Nội nhẹ và mượt mà, bà nói và bàn tay khoa lên, các ngón tay hất nhẹ, chiếc khăn lụa màu cánh sen bay phất phơ trong gió. Tôi không dám nói với người khách lớn tuổi đang ngồi trên xe, ông ta cười hiền tự mở cửa, xách cặp bước xuống ghế sau. Cả đám các bà thi nhau nói cám ơn, bà khách từ từ, yểu điệu, bước lên xe rồi quay xuống nói với mấy người bạn:

Nè, tụi mi biết Hồi- Cung xưa ni mong chi được nấy hỉ! Thôi Hồi- Cung đi nha. Ai da đi nha !

Tôi vội lên xe ra khỏi khu Kim Long chạy về cầu Dã Viên, cây cầu mới xây cao và đẹp, che án cả cầu xe hỏa Bạch Hổ ngày nào. Bà Hồi Cung để xách tay xuống ghế, lấy chiếc gương nhỏ trong xắc ra, làm dáng chím môi, liếc qua lại, và bắt đầu “Câu chuyện của nàng” qua điện thoại di động. Bà bấm số, vì tuổi cao, tai lãng nên bà nói lớn và đầu kia, lời đáp lại cũng vang vang.

“Ơ! Ơ! Tịnh Tâm phại hôn? Quỵ mô! Mi nhớ, nhớ chưa nào? Nghe giọng có nhớ ra chưa nì?” – “Ai rứa, ai rứa, tui chẳng nhớ ra, đã hơn sáu mươi rồi, nói lớn lên hè” . – “Ơ , ơ, tui đi mà, Tịnh Tâm không nhớ răng!” – “Cái con mắt híp hỉ! Cái con khi xưa đi học ở Hàm Nghi, mi dấu trái thị trong khăn tay cho thơm, bị cô Thà phạt cấm túc mà khóc sưng mắt!” – “Ơ mi không nhớ tau sao Tịnh Tâm?” –“ Đồ quỷ, mấy mươi mụ già trong lớp, chừ tao biết nhớ mụ mô? – “Ưà, ưà, rưá có chán không hỉ?” – “Tau là Hồi, Thân- thị -Hồi, người đẹp Hồi- Cung đây, sao mi không nhận ra, mi không sợ ai -da phạt sao hè?” – “Ồ, Ô ! Mi, mi con Hồi, cái con Hồi chuyên làm điệu , làm dáng, đi thì nhún nhảy như cung tần, quý phi …. Hử ! Mi ở mô rứa , Hồi ơ ?

Cả xe im thin thít, nghe giọng nói lúc cao, lúc thấp, của bà Hồi- Cung kể lể vạn điều…

Chao ôi tau nói mi nghe…. Hồi- Cung đây nì! Chao ôi mấy mươi năm rồi. Tụi mình bi chừ là “mama lục thập” rồi chứ nì…. Ờ Hồi- Cung bi chừ ở Mỹ, ở với con gái … tau mi cùng tuổi, sáu ba …ờ…ờ.

Cô Hồi vừa nói xong với người bạn Tịnh Tâm là quay qua Hải Đường, Hương Lan, Nguyệt Quế….khi nghe những tên gọi này là thấy ngay vẻ đẹp, thấy thơ phú của thời xa xưa, thuở mà tôi chưa ra đời. Thỉnh thoảng cô ngừng thở, ngừng nói, rồi lại trào lên những dòng dĩ vãng chảy mãi, chảy mãi… Cô quay sang tôi :

– Cháu ơi, đây là ni mô?

– Dạ vừa qua Truồi, sắp qua đèo Phú Gia.

“…Ờ, ờ…Mi còn nhớ Truồi không nì, nhớ bòn bon ngọt sớt, nhớ ổi sẻ.Xe tau chạy qua Truồi, chao ôi chi mà lạ! Chao ôi, về có hai tuần, mà nào bên nội, bên ngoại, bên chồng, bên họ….tau thèm gặp hết tụi mi, mà răng gặp được. Yến Phi ơi, tau qua chuyến ni rồi chẳng biết khi mô về thăm lại quê… Ờ, ờ…tau sẽ gọi cho con Hồng ăn-hàng , thăm nó …răng nó không có chồng con chi à? Răng mi nói chi, tu tại gia à? Mi cho tau số điện thoại của con Hồng.”

Cô thẫn thờ tắt máy ngồi yên. Khi cô ngưng nói, cả xe bỗng im lặng. Xe chạy ngang qua Phú Lộc, cuối dãy sau, hai người Pháp khe khẽ nói và chụp hình Phá Tam Giang mênh mông nươc, đìu hiu, mấy chú cò trắng soi bóng chờ tép tôm.

Cô sụt sùi lấy khăn lau mũi, chẳng biết cô nghĩ gì khi kéo khăn giải lụa, vuốt nhẹ cho nền lụa khép nép bên màu hoàng yến của chiếc váy có hoa văn đuôi phụng. Tôi ít khi thấy người đàn bà nào lớn tuổi hơn mẹ mình mà đẹp cao sang như vậy. Tôi khẽ hỏi :

– Cô ơi, cô là Việt Kiều? Cô về Huế lâu chưa cô ?

– Ô, xưa kia cô ở Huế, sau Mậu Thân, cô vào Saigòn cùng gia đình; bây giờ cô ở Mỹ với con. Cháu à, hơn bốn mươi năm cô mới trở lại Huế, Chao ôi chỉ có mươi lăm ngày làm răng mà gói cho hết tháng ngày cũ, cháu ơi!

– Dạ, mười lăm ngày thì ít quá.

Cô đăm đăm nhìn những thùng phuy đặt trên bờ đất bốc khói dọc bên đường :

Chi rứa cháu? Cô hỏi tôi.

– Đó là bà con đang chưng cất dầu tràm. Cô thấy mấy chai nước xanh xanh bên cạnh, là dầu tràm đó cô.

Những ông già, bà già lam lũ, ném từng bó củi cành nhánh vào lò, khói ùn ùn lên bầu trời xám xịt vào những ngay chớm thu. Bầu trời, khói xám và Phá Tam Giang giăng lên một khung màu rã rời của ngày vào thu xứ Huế.Trời cuối thu Huế luôn âm u buồn , màu mây xám phủ mênh mông đến cuối chân trời . Cô Hồi -Cung lại lấy khăn giấy lau mắt, vẫn giọng Huế thanh và trong trẻo, tiếp tục điện đàm :

“– Ơ Hồng phải không? Ôi chao, mệ còn nhớ tui không, cái mệ tổ ăn hàng ở lớp mười-A-chín (10A9) trường Hàm Nghi, năm sáu-tám hè . Không nhớ tau sao Hồng? Hồi -Cung đây. Hồi điệu đây mà… A, mi nhớ ra rồi! Mi răng đó Hồng ?”.

Giọng cô Hồi nhỏ dần, cô cúi xuống, ít tóc xoăn trước trán gió thổi thốc lên, để lộ lưa thưa chòm sói. Cô lí nhí nói :

“– Chồng mi bị giết , xác chôn ở La Chữ hỉ? Đồ khốn,răng mà tụi nó ác , nghe nói anh ấy dạy tiểu học, tính hiền khô mà. Rồi mi có mấy cháu? Tội nghiệp mi, chồng bị giết, con không có mà ở rứa hơn bốn mươi năm trời nuôi mẹ chồng. Chao ôi, tau nhớ… tau nhớ…ờ, nhà mi bên kia Cầu Đá, Vĩ Dạ ,vô ngả An Viên, ờ, tau nhớ bốn đứa mình nghịch như quỷ, ngồi bên thúng bánh nậm o Chi mà vừa ăn vừa rít sìm sịp nước mắm ngọt cay. Ôi chu choa răng mà ngon nức nở mi hỉ! Mi hỏi răng? Ồ, Hồi- Cung đi với ba mệ cùng lớp 11 xuống đường Chi Lăng vô quán mụ Đỏ, bọn tau thời hai mâm nào bánh bột lọc, bánh bèo, chả tôm, bánh nậm, bánh khoái … mỗi thứ vài cái mà mấy mệ đã đứt hơi! Ờ…ờ, mi nói đúng, bi chừ đâu có ngon như xưa. Cửa hàng to lớn, sạch sẽ, khang trang hơn, nhưng bánh nậm mụ Đỏ sao bằng cái thúng của mấy o bưng đi, áo dài phất phơ trong hẻm, tiếng rao như chim cu gáy hót cầm chừng trong buổi chiều tĩnh mịch “Ai… ai…nậm …hôn!”, “Ai… ai…lọc …hôn!” Rồi mi nhớ cái gáo xinh xinh bằng trái mù u bỏ trong hũ nước mắm ớt chua ngọt? Mi nhớ tụi mình tự múc, tự chan, húp sì sụp trong nắng trổ hoa cà dưới tán cây khế nhà mi… Ôi chao, mới đó mà Hồi- Cung sắp vào viện dưỡng lão ở Mỹ…”.

Cô sùi sụt khóc nói như mếu :

“– …mới đó mà đã hơn nửa đời người, mi thì bi chừ thui thủi giữ bình hương khói người chồng chết trẻ, thui thủi một mình tu tại gia, tau thì…Chao ôi răng khổ rứa Hồng ? Ôi, chao ôi!”

Giọng cô Hồi lắng dần như tiếng nấc nhỏ…Tôi thấy cô cúi đầu và nghẹn giọng:

– Qua bển rứa được hơn mười năm thì chồng tau lấy vợ khác, tau sống với con gái, nó có chồng người Canada làm kỹ sư, tau có thằng cháu ngoại đã hơn mười lăm, cả hai vợ chồng nó đi làm từ mờ sáng, tối mịt mới về. Chỉ có ngày thứ bẩy là shopping, dọn nhà,…ngồi cơm chung một bữa, Bi chừ chúng nó đã nói xa, nói gần… khi tau già không còn tự lo được nữa thì chúng sẽ đưa tau vô dưỡng lão. Biết làm sao được, con nó thương mình mà nó làm gì được cho một bà già…. Bên nớ phải rứa thôi Hồng ơi, họ thương mình mới bảo vệ cho những người già không tự lực được phải vô viện dưỡng lão. Họ thương mình lắm nên nhốt mình vô đó mi ơi!! Vô đó nằm chờ chết.

Giọng cô buồn vời vợi như bầu trời xám xịt trên khu Cầu Hai tiếp giáp Lăng Cô, cô lấy khăn giấy thấm mắt, bớt sụt sùi, rồi lại lấy ví ra lục sổ điện thoại, lại bấm máy:…

“– Dạ… dạ thưa…Em hỏi thày Hải. Dạ… ồ, cháu cho cô gặp ông.”

Cô quay qua nói chuyện với tôi khi chờ máy :

– Cháu nè, đó là thày dạy cô hơn bốn mươi năm trước. Thày đã qua bẩy mươi tuổi rồi…

“– Dạ, dạ… Em chào thày.” Có tiếng lí nhí, o..o.. ở trong máy… Cô Hồi lại la lớn:Dạ…dạ.. thày nghe rõ! Dạ em là Hồi Cung, học trò thày lớp 11A2 trường Hàm Nghi. Dạ, lúc thày về trường được một năm…Dạ..dạ chị Liên- Trì cho em số điện thoại của thày. Dạ…dạ.. Thày nhớ đúng rồi, em là Hồi -Cung, dạ không có mô thày. Em nhớ thày dạy môn lý cực hay, thày hay vẽ, thày luôn luôn vẽ trên bảng đen, chỉ là định luật Newton về sưc hút mà thày vẽ quả táo rơi như có ai ném từ cành cây xuống đất . Chao ôi, tụi em mê cái hình hí họa thầy vẽ cái ông già ngồi trên ghế gỗ nhìn táo rơi,em mê cái hình hơn cả định luật sức hút của trái đất đó thày ”.

Cô chợt im lặng, như cố nghe ông thày già thều thào nói như hết hơi bên kia đầu máy.

“– Dạ… dạ, bị Alzeimer nhẹ có thể phục hồi được thày à. Thày nhớ tới cô Thanh -Xuân dạy văn không , em kể thày nghe, tụi em mấy đứa các lớp Hàm Nghi ngày ấy, có vào viện dưỡng lão Kim -Sen ở Seatlle thăm cô Xuân, tội nghiệp lắm thầy ơi! Ngày ấy cô Thanh Xuân đáng yêu là như vậy. Tụi em có bao giờ quên cái khăn quàng màu tím và đôi mắt thăm thẳm buồn của cô giáo dạy văn hay nhất trường ngày ấy. Bây giờ nhìn cô ngồi xe lăn, tóc bạc phơ, miệng móm, da nhăn… Thấy tụi em vào, cô gượng dướn người lên nhìn và nói như nói với khoảng không..“Các em à, sao lâu lắm con trai cô không vào thăm?Cũng lâu lắm rồi cô không thấy nó vào thăm cô!” Cô không còn nhớ gì nhiều , cô chỉ có một ước mơ mong chờ cậu con trai vào thăm … Thầy ơi ngoài khung cửa dưỡng lão Kim- Sen, rừng cây xanh và tuyết trắng, mắt cô hom hem nhìn vào khoảng không… Chắc cô cũng chẳng còn nhớ đến Huế đâu thày? Em…Em..

Cô nức nở thút thít khóc vá dán sát tai vào điện thoại nghe giọng thều thào của một ông già Alzeimer bên kia. Rồi cô chợt reo lên :

“– Thầy nghỉ hưu ở Đà Nẵng? Dạ…dạ,, em có nghe sau khi đi quân dịch, thày được chuyển về dạy ở Phan Chu Trinh Đà nẵng, rồi thày có gia đình và ở đó. Dạ… dạ ..em có ba giờ rảnh ở phi trường Đà Nẵng, chờ chuyến bay 13 giờ 30, …dạ…dạ…em sẽ ghé thăm thầy. Dạ…dạ.. em đến Đà Nẵng em sẽ gọi báo tin thầy hay.”

Rồi cô tắt máy, cô lẩm bẩm khi cả xe nhìn cô trong im lặng. Cô như diễn viên Opéra, cúi chào và lẩm bẩm lời cám ơn… trong cảm xúc, sau giờ diễn còn đọng một giọt nước mắt bên khóe mi. Tự dưng tôi như đứa cháu thấy thương bà cô già lóng cóng lục lọi trong mớ sách vở cũ, gặp lại những trang giấy ố vàng với vài dòng chữ nhợt nhạt, vừa lẩm bẩm đọc, vừa khóc thương cho sự quái ác của thời gian.

Cô lại bấm máy điện thoại nói như thầm thì: “ – Nè, mi, Liên Trì ơi, tau mới diện thoại cho thày Hải. ôi chao, tội nghiệp mi ơi! Thày bi Alzeimer nhẹ nên nói lắp bắp khó nghe. Thày nhớ đến tụi mình, nhớ đến tên mi, tên con Bùi thị Phỉ- Thúy … Mi biết không, tau xúc động biết bao khi thày nhắc đến cuộc pinic ở Lăng Gia -Long vào dịp hè khi tụi mình học lớp 11. Cả lớp đi, có mời thày và mấy cô giáo … Mi nhớ không, trời mưa giông bất ngờ, cả đám tụi mình cùng thày Hải núp mưa trong nhà bát giác bên hồ sen, tau nói khát nước quá vì buổi trưa ăn bánh nổ…hì, hì thày nhắc tau: “Em, Hồi, có nhớ thày mượn chiếc nón lá trắng mướt của em, chồm qua lan can nhà bát giác, hứng dòng nước mưa mát lạnh từ trên nóc nhà đổ xuống hồ sen. Thày đưa cho em bảo uống đi, thày nhớ em uống mà tóc em xòa trên vành nón trắng …nước trong veo, mắt em cười trong veo” Chao ôi, mi ơi, ông già bẩy-mươi –lăm mà lập bập nói … còn nhớ mắt em trong veo. Chao ôi, mi ơi! Răng?…Răng? …mi nói bậy…tau đâu có mê thày..”

Xe qua đèo Hải Vân, trong bóng tối nhờ nhờ, tôi thấy cô Hồi Cung vẫn còn sụt sịt trong niềm vui của cô thiếu nữ mắt trong veo đang sống trong một bà già lụp chụp lần từng sơi tơ mong manh quá khứ, ngất ngây.

Cả xe im lặng, màu ánh sáng vàng đục nhờ nhờ của hầm xuyên qua đèo Hải Vân, tiếng sụt sùi khe khẽ của cô Hồi Cung, làm tôi xốn xang như khi nghe tiếng thở dài của người cung phi già trong Cung Oán ngày xưa, tỉnh mịch, rêu phong của khúc ngâm ai oán. Xe qua hầm, bỏ Huế lại sau lưng, âu sầu với mây trời đầy sắc xám từ phá Tam- Giang, qua Cầu Hai đến tận Lăng Cô. Bây giờ trước mắt là gió và nắng hừng hực sức sống của đất trời xứ Quảng.

Tôi ái ngại hỏi khẽ cô Hồi:

– Cô hẹn thày ở đâu, cháu ghé qua cho cô đến tiện hơn là lên phi trường rồi lại quay về phố.

– Thày hẹn cô ở quán Thúy đường Tản Đà.

– Vậy là rất tiện, nơi ấy kế bên đường xe mình về phi trường Đà Nẵng .

– Không đâu, cháu cứ cho cô về phi trường để check-in xong rồi hẳn hay.

Cô Hồi- Cung dứt khoát. Tôi im lặng đồng thuận. Tôi nghĩ sao cô không ghé quán Thúy thăm thày xong bắt taxi ra phi trường, bây giờ còn gần bốn giờ nữa cô ra phi trường làm gì.

– Cháu ơi, – Cô hỏi – bây giờ đến 12 giờ trưa cháu làm gì?

– Cháu chở khách vào rồi chờ chuyến bay 13 giờ ở Saigon ra, đón khách đưa về Huế như thường lệ.

– Vậy cháu chờ cô một tí, cô check-in xong, cháu chở cô về phố Tản- Đà, Đà Nẵng được không?

– Dạ được cháu giúp cô, cô cho cháu thêm tí tiền xăng là được.

– Vậy chờ cô vào, ra ngay. Còn hơn giờ nữa cô mới gặp thăm thày.

Tôi đưa khách vào phi trường Đà- Nẵng . Cô Hồi- Cung ung dung kéo va-li và túi du lịch đi vào trong, giải khăn lụa màu cánh sen phất phơ bay. Một mình cô vụng về kéo, mang, tự dưng tôi thấy ái ngại cho một người lớn tuổi lẻ loi về thăm quê hương.

Gần một giờ sau, cô Hồi Cung trở ra, đàn bà sao giống cỏ cây và trời đất, chỉ có một tí mưa xuân mà cỏ cây đã như bừng sức sống. Vẫn khăn quàng màu hồng cánh sen dịu dàng ôm cái cổ cao cao và nước da trắng xanh cốt cách, cô đã vén tóc lên để lộ thoáng một chút phấn hồng, chút son nhạt, tôi thấy cô khác hẳn lúc trước.

Tôi nhìn cô mỉm cười thân thiện :

– Sao lâu vậy cô? Trời, cô mới trang điểm, đã thấy trẻ đi mười tuổi.

M..ô..ô ..! Năm ni o đã sáu mươi ba rồi đó con à.Cháu biết không, dù là bà lão già vẫn mong người ta khen mình trẻ đẹp như hồi bà lão còn là con gái! Cô phải sửa soạn chút mới gặp thày, cháu à. Khi nãy nếu cô nghe cháu ghé quán Thúy, thì đâu đã sửa soạn được chi , lại ngồi gần một giờ để chờ thày thì răng được cháu. Con gái khi mô, cũng phải đến chậm hơn để người ta đợi mới hợp lẽ cháu à. Bi chừ thày đến đợi quá mươi phút là được, mà cô cũng chấm tí phấn hồng cho đỡ nhợt nhạt vì tuổi tác. Cháu vào với cô ăn chút chi đi nghe cháu?

– Thôi cô à, cô cứ vào, cháu chờ ngoài xe, nghe nhạc. Cô nhớ mình phải đến phi trường trước 12 giờ 30, để khỏi trễ chuyến bay cô ạ.

Cô vội vàng bước xuống xe, quán Thúy nằm dưới hàng cây phượng vĩ khép tán trên đoạn đường nhánh của bờ sông Bạch Đằng. Một ông cụ đĩnh đạc, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây sậm, đầu nón phớt sậm màu, mang kính mát chờ bên gốc cây. Tôi thoáng nhìn thấy hàng ria mép bạc màu, như mấp máy khi cô Hồi Cung vừa bước tới. Nhìn hai thày trò vào quán giữa tiếng ve râm ran tiếc nuối một hè muộn đã qua.

Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tôi lim dim nghe nhạc Trịnh, trong cái dịu mát của máy lạnh và không gian yên ắng bơ phờ của nắng miền Trung. Tôi định mười phút nữa sẽ vào gọi cô Hồi để đưa về phi trường, thì thấy cô đã ra khỏi quán với người thày già tóc đã bạc phơ.

– Dạ cám ơn thày đã cho em thăm thày, dạ…dạ Em chào thày.

– Nì, em Hồi cho thày gửi lời thăm Liên- Trì và bạn cùng lớp, Thày chẳng biết bao giờ mới được gặp lại các em!

– Dạ, thày đi trước, em lên xe về phi trường.Ông bịn rịn, rồi lấy khăn trong túi ra chấm mắt, người già thật dễ mủi lòng.

– Dạ…dạ… Thày ơi, em đi đây.

Cô Hồi lên xe, tôi đẩy cửa và cúi đầu chào ông già, ông đang từng bước đi thật chậm, hơi xiêu xiêu, rồi ngừng chân quay lại, đôi mắt đỏ hoe nhìn lên xe.

– Cháu thấy thời của mấy cô, mấy ông đa cảm quá. Tôi mở lời.

Cô Hồi sụt sùi cúi xuống che dòng nước mắt , se sua chiếc điện thoại trên tay, không trả lời. Xe chạy một đoạn cô mới nhỏ nhẹ :

– Tội nghiệp thày của cô, ngày ấy thế mà nay … Cháu biết không, thày nhớ tên từng đứa học trò, nhớ cả chỗ ngồi của cô trong lớp, nhớ cả cái tật của cô Liên Trì là hay xốc mớ tóc dài lên bờm xờm như đuôi ngựa khi vào lớp, thày nhợ,.. thày nhợ. .. Nay thì thày thui thủi sống với người con trai út và mấy cháu,vợ thày đã mất mười năm rồi … cứ sáng sáng thày khập khễnh đi bộ xuống bờ sông Hàn ngắm cây cầu quay mới xây cắt ngang tầm nhìn về hướng Huế…

– Tuổi gìa được sống bên con cháu, được chậm rãi đi trên lối mòn của ngày xưa thì còn gì bằng cô… Tôi nói.

– Ồ …ồ, đúng đó cháu, ở bên ấy lắm khi con cháu cả nhà đi làm hết, cô ra vào ngó qua khung cửa , cô chỉ mơ giá như mình được đi chầm chậm bên bờ Thương Bạc, sông Hương mà ngắm một con đò …để nhớ những ngày vén áo dài đi qua đò ngang ..nhợ…nhợ…

Cô lại bấm máy gọi “– Liên Trì ơi, mệ đang mần chi rựa ? Tau mới ghé thăm thày Hải, ờ..ờ .. Thày nói nhà của đứa con trai út ở sâu trong hẻm khó tìm, nên hẹn tau ngoài quán bún chả cá nhỏ ngoài lộ. Ơ…ơ.. chẳng có chi, tau mời thày ăn bún, uống nước nói đủ thứ chuyện. Tội quạ mi ơi! Tụi mình nhớ ngày thày mới về trường phong độ là vậy, giọng Huế thành-nội mượt mà là vậy. Mà nay, tóc ria bạc phơ, bị tai biến nhẹ, nên tau thấy bên trái miệng, mắt thày hơi lệch, khi nói thì mắt và môi giật giật nhẹ, trước khi phát âm mi à . Tội quạ mi ơi! Bàn tay ngày xưa hào hoa là vậy, mà bi chừ run run khi cầm chiếc muỗng đưa bún vào miệng. Tội quạ mi ơi! Thày hỏi mi : « Nè em, cọ gặp Liên Trì không? Cô ấy hay dùng khăn tay cột xốc mái tóc như bờm ngựa! » Tội nghiệp quá mệ Trì ơi! Bi chừ mệ không chịu sửa soạn, con cháu một bầy vây quanh,vậy mà cũng còn có người xưa nhắc cô Liên-Trì tóc đuôi ngựa. “Rựa… rựa…Em Hồi cọ còn làm thơ không? Thày nhợ bài thơ của em trên báo tường của lớp”. Chao ôi! Tội quạ mi ơi!.

Cô Hồi ngồi yên, áp sát máy điện thoại vào tai, tay trái rút khăn giấy ra thấm mấy giọt nước mắt chực trào ra.

“– Ơ…ờ.. tao kể cho thày nghe chuyện tụi tau thăm cô Thanh Xuân tại nhà dưỡng lão Kim Sen ở Seattle, mi ơi, thày nghẹn lời. Người già vậy mà dễ khóc! Tau nói với thày: “Như thày, như các bạn già em gặp, ở bên ni ri mà sượng có con, có cháu, có cỏ cây, đường xá quen thuộc…giọng nói quen, tiếng rao đầu ngõ cũng quen…Còn thày ơi bên nớ buồn không chịu nội mô . Thày ơi, em về thăm quê chuyến này, rồi về lại với con gái và thằng rể Canada, rồi vài ba năm nữa, chúng nó sẽ đưa em vào viện dưỡng lão Santa ở San José. Chúng có thương cha mẹ đứt ruột cũng phải đưa vào đó thôi. Em không lo cho mình thì ai lo cho em? Vào dưỡng lão có tất cả mọi thứ thày ạ,y-tế, chăm sóc, ăn mặc, giải trí… Nhưng lòng mình buồn khổ lắm thày ơi. Đành rằng ai cũng chết, nhưng vào đó không phải sống mà mình thấy rõ là mình nằm chờ chết. Ngồi xe lăn nhìn chung quanh, nhìn ra cửa sổ …Ôi thày ơi. Mình như con chim sơn- ca bị vặt hết lông nằm trong lồng quên tiếng hót… không quá khứ, không tương lai, không có chút gì nối liền với cõi đời, trừ sự cùng cực của cô đơn! Rồi em cũng sẽ phải khổ như cô Xuân rựa thày ơi!”. Ôi tội nghiệp quạ mi ơi! Khi tau cúi xuống , chầm chậm ăn và nói với thày tau đâu cọ để mô ! Khi tau ngước lên, thày ngừng ăn khi nào, hai giòng nước mắt nhập nhòe bên khóe mắt chân chim, thày lập cập: “ Thôi em, thôi Hồi, đừng nọi nữa em” Có một điều tau đau lòng nhất là chi mi biết chi không Liên Trì ?”

Tôi ngừng xe mua phiếu qua trạm vào phi trường. Xe chầm chậm lăn bánh. Cô Hồi tiếp tục:

– Thày lập cập tay múc từng muỗng bún ăn chầm chậm. Một cọng bún ngắn nằm vắt trên ria mép thày, phía bên trái bên bị tê liệt nhẹ, tau mấy lần định nói mà không dám. Thày chậm rãi nói nhiều từ thều thào nghe không rõ; mắt tao vẫn trân trân nhìn cọng bún trên ria mép thày . Ôi! Tội quạ mi ơi! Tau muốn đưa khăn lau cho thày, muốn múc bún chăm sóc cho thày ăn như tụi mình giúp cha già ngày trở bệnh. Rồi khi chào thày lên xe, ông thày già tội nghiệp đứng đó nhìn theo, chân tay lập cập vì Alzeimer, bước theo cô học trò gần nửa thế kỷ trước, và Liên trì ơi, Tội quạ mi ơi! Tau vẫn thấy cọng bún ngắn trên ria thày mà không dám nói gì! Mi thậy không tội nghiệp quạ mi ơi! Liên Trì ơi, tau thấy răng mà người Huệ mình quặn đau lòng dạ với dĩ vãng quá mi ơi! Ôi cại nghiệp chi mà khộ!” Rồi cô thút thít khóc .Tôi mở cửa xe, đỡ cô Hồi Cung bước xuống. Cô như muốn quỵ xuống, khi tì sát vào tay tôi, dù điện thoại đã tắt máy mà cô vẫn lẩm bẩm như trong mơ: “ Tội nghiệp…tội nghiệp quạ mi ơi!!” .

Bây giờ tôi không còn thấy người đàn bà cao sang, với ta khăn lụa màu cánh sen phất phơ trong hẻm giữa hai hàng chè tàu cắt tỉa vườn Kim Long lúc sáng nữa. Giờ đây, chỉ còn có một bà già xứ Huế cột chặt quá khứ vào tuổi tác và cô đơn.

Cô rối rít cám ơn, tôi cầm đôi tay khô đét của cô mà nhớ đến mẹ mình trong những ngày cuối đời.

– Cháu ơi , Ôi chao cại nghiệp chi mà khộ”

Cô Hồi Cung vẫn thút thít khóc khi chầm chậm bước vào lối kiểm soát an ninh phi trường.

Tôi lẩm bẩm một mình khi ra xe chờ khách về Huế :

Răng người Huệ mình nặng với dĩ vãng quá mi ơi! Ôi cại nghiệp chi mà khộ”.

(Còn nữa)

Nguyễn Quang Tuyến

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s