PÉTER NÁDAS: một truyện về lửa và nhận thức (Đào Trung Đạo chuyển ngữ)

peter-nadas

PÉTER NÁDAS
một truyện về lửa và nhận thức

Với giới đọc sách Việt Nam dường như Péter Nádas ít được biêt tới trong khi văn giới Âu-Mỹ cho rằng ông là một trong những nhà văn Âu châu quan trọng, có tầm cỡ của James Joyce, Robert Musil, Thomas Mann…trong nửa sau thế kỷ 20. Độc giả những xứ sử dụng tiếng Anh được đọc tác phẩm quan trọng nhất của Péter Nádas khi A Book of Memories bản Anh văn ra mắt năm 1997, và sau đó là The End of a Family Story (1998), Love (2000), A Lovely Tale of Photography (1999), My Own Death (2004) và mới đây nhất là tập Fire and Knowledge/Lửa và Nhận thức (2007) tuyển chọn một số truyện ngắn và luận văn do Imre Goldstein dịch sang Anh văn.Péter Nádas sinh ở Budapest, Hungary năm 1942, cha là đảng viên Cọng sản cao cấp nhưng bị những đối thủ Sta-lin-nít trù dập hãm hại. Mồ côi từ khi còn nhỏ cho nên 16 tuổi Péter Nádas đã phải tự mưu sinh bằng nghề chụp hình, rồi làm ký giả nhiếp ảnh, biên tập viên, và cố vấn kịch nghệ trong những thập niên 60 và 70. Truyện cũng như luận văn của ông lấy bối cảnh nước Hungary trong giai đoạn chế độ Cọng sản còn độc quyền thống trị chúng ta thấy Péter Nádas rất gần gũi, vì chúng ta là những người đã và hiện sống qua/trong những thời kỳ từ bao cấp sang đổi mới…Lửa và Nhận thức gồm 9 truyện ngắn và 14 bài luận văn được viết rải rác từ cuối thập niên 60 cho đến 2001. Vì sự gần gũi cũng như khả năng có thể học hỏi từ kinh nghiệm và văn chương của Péter Nádas chúng tôi xin chọn dịch bài luận văn Một Truyện về Lửa và Nhận thức dưới đây.Nhất là trong tình trạng toàn thể các cơ quan thông tin báo chí trong nước hiện bị đặt dười sự chỉ đạo của Đảng, bài luận văn này của Péter Nádas thật là một tài liệu thích đáng tuyệt vời…

*Dư luận quanh giải Nobel Văn chương 2013 cho rằng rất có thể Péter Nádas sẽ là nhà văn được trao giải này

***

Vào một đêm hè nóng bức một số thủ phạm ẩn danh, trong những tình huống không rõ lý do và với những ý định bí ẩn, đã châm lửa thiêu đốt ở bốn ngả của nước Hungary. Chúng ta chỉ được biết rằng lửa đã phát cháy ở Ágfalva thuộc phía tây, ở Tiszabecs thuộc phía đông, ở Nógrádszakáll thuộc phía bắc, và ở Kubekház thuộc phía nam. Những cánh đồng sau vụ gặt cháy hừng hực, những thảo nguyên khô cằn bừng bừng lửa, và chẳng bao lâu sau nửa đêm lửa đã lan sang những ngôi nhà thuộc ngôi làng kế cận đầu tiên. Một làn gió dịu dàng nhất và ngây thơ thổi từ phía tây ở Ágfflva, từ phía đông ở Kuberkház, từ phía bắc ở Nógrádszakáll, và từ phía nam ở Kubekház bẻ quẹo và đổi hướng những ngọn lửa vào nội địa. Budapest, chẳng hay biết gì, vẫn ngủ thiếp.

Báo chí tường thuật, đăng tải ở cột tin tức đứng thứ bảy trong bản tin buổi sáng, rằng trong những vùng phía đông, tây, nam, bắc còi cứu hỏa tầm cỡ được huy động từ tờ mờ sáng; mẩu tin tức tí tẹo báo động này cho mọi ngườ dân Hungary biết rằng biến cố xảy ra quả thực rất đáng kể.

Dù ai cũng biết rằng tin tức không nói lên điều muốn nói, nhưng vì là công chúng, tất cả mọi người đều giả tảng như không biết tin tức muốn nói gì. Trong ngôn ngữ thông dụng thời đó, chẳng hạn “đáng kể,” có nghĩa là “không đáng kể,” và “không đáng kể” được dùng để chỉ “đáng kể,” nhưng vì chữ nghĩa đã không hoàn toàn mất đi cái nghĩa nguyên ủy, cho nên có thể đã không có một sự đồng ý chung nào về ý nghĩa thực sự của chữ nghĩa. Sự đồng ý thầm lặng do đó có thể chỉ tiến tới mức độ một điều gì đó do sự đồng ý chung không hề hiện hữu có thể không có nghĩa đó.

Họa may nhờ phước đức ông bà để lại những từ ngữ đã mất đi ý nghĩa ban đầu lại có được những nghĩa mới, nhưng điều này hóa ra lại không thể nào tưởng tượng được nếu như ta không biến nhận thức cá nhân thành nhận thức tập thể mà không có một sự đồng ý chung. Kết quả là, mỗi từ ngữ trong kho ngôn ngữ – giờ đây cứ theo như nhận thức cá nhân của dân chúng, cứ theo như sự ngu muội chung – có một nghĩa khác hơn trước đây người ta vẫn hiểu, và người đời phải đi tìm kiếm nghĩa của một chữ bằng cách lần lượt xem xét hoàn cảnh của người nói ra chữ đó và cái nghĩa mới có liên hệ ra sao với nghĩa ban đầu. Và nếu như chữ đó dường như hóa ra vô nghĩa, bởi nếu cả nghĩa của nó cũng như hoàn cảnh người nói ra đều có thể tin được, thì sự phi lý đó lại có một ý nghĩa nằm rất sâu, như thể chữ này muốn nói lên một điều gì đó. Trong ngôn ngữ của người Hungary, những tiếng với một nghĩa không đáng tin có ý nhắc tới một tập thể nhân loại sâu thẳm mà người Hung bị cấm chỉ không được nghĩ tới. Khi người đời nghĩ trong một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ tức là không nghĩ vế cái gì cả, họ không khỏi rốt cuộc cũng cho là mình nghĩ về một cái gì đó; thế nhưng những kẻ nghĩ không về gì hết trong tiếng Hungary sẽ có một trách vụ lịch sử hiển nhiên là bất khả: không được để một cái gì đó hiện ra trong đầu óc khi nghĩ ngợi về không một cái gì cả hoặc là cho phép, khi nghĩ về một điều gì đó, không được để cho một cái gì đó hiện ra trong đầu óc có thể dẫn tới việc suy nghĩ của mình dẫn đến một điều gì đó.

Mặc dù cái cách sử dụng ngôn ngữ đặc thù đó không làm cho việc trao đổi thông tin với nhau thành đơn giản, nhưng cái qui tắc căn bản là phải tránh không được biến nhận thức cá nhân thành nhận thức của tập thể, điều này người Hungary đã rất có kinh nghiệm. Trong thế kỷ trước và suốt cả nửa đời người họ, họ đã học hỏi được rằng chỉ có sự ngu dốt tập thể là có thể cứu vớt được họ khỏi sự điên rồ cá nhân. Nếu như họ không chia sẻ nhận thức cá nhân của mình với nhau, họ sẽ khỏi phải vướng vào sự điên rồ của tập thể khiến rất có thể sẽ gây hệ lụy giữa bọn họ với nhau và với những kẻ khác. Người Hungary đã nghĩ như thế. Hầu như thật khó mà lần theo cái lô gích của họ, trong việc quản lý đởi sống cá nhân và tập thể của họ, điều này chẳng bao giờ bị chứng tỏ là sai. Do sự nổi cộm của cái lô-gích chung này, thứ lô-gích bịt miệng nhận thức tập thể, họ vẫn còn là người Hungary. Như vậy chẳng những cái lô-gích của họ không phải là vô dụng cho sự tồn vong của họ, mà nó còn trở thành điều kiện đơn nhất và duy nhất để tồn tại. Thế nhưng, cái đã được chúng tỏ là hữu dụng trong một cơn giông có thể sẽ không nhất thiết là hữu dụng trong một đám cháy lớn.

Thường thì khi một con tàu trong cơn bão những cánh buồm được hạ xuống, nhưng gió đôi khi có thể gây ra những cảnh ngộ tốt hơn nếu giương buồm lên. Nhưng nếu trên boong tàu phát hỏa, thì trong cuộc đấu tranh với những ngọn lửa tàn phá việc hạ hay giương buồm chẳng có gì khác biệt.

Thế nên ứng xử của người Hungary, cái lô-gích của cách suy nghĩ của họ và việc sử dụng ngôn ngữ của họ, có một nét chúng ta chẳng thể gọi là sai lạc hay khiếm khuyết nhưng, thà gọi đó là một sự co rút, là đặc điểm của tất cả những thứ không minh bạch. Khi việc tránh không chia xẻ nhận thức cá nhân đã trở thành qui luật thông giao căn bản., bởi vì chỉ có cách bám riết lấy sự thỏa thuận ngầm này người Hungary mới có thể bảo tồn tập thể quốc gia, và điều này cũng dẫn tới những hệ quả khó tránh cho cá nhân. Bất kỳ người Hungary nào cũng đều giả định rằng cái anh hay chị ta biết thì ai cũng đều biết cả, dù rằng chẳng có người nào có thể định nghĩa đó là điều gì, có được biết hay không được biết. Song le, bởi đang ở trong một nhu cầu thường trực và chung cùng của những sự giả định và lùng kiếm ý nghĩa của những từ ngữ bằng cách luồn sau lưng ý nghĩa của những từ ngữ, họ đồng loạt có thể chỉ biết rằng họ bị ép buộc phải giả định về những vấn đề họ không có chút nhận thức cá nhân nào, hay tốt hơn, với tư cách cá nhân họ không thể biết điều tất cả bọn họ đều không biết.

Tuy nhiên, trong cái hoàn cảnh tế nhị này, toàn dân trong xứ đã đoàn kết vững vàng trong việc chẳng có ai vội vã đi dập tắt những đám cháy. Trong sự thiếu vắng cái động thái không thể nghi ngờ là có ý nói về đám cháy, họ đã duy trì được tính quần chúng của họ bằng cách suy nghĩ về ý nghĩa của những đám cháy. Và ai là kẻ có thể nghi ngờ được sự suy nghĩ đó không là một động thái? Còn về chuyện những đám cháy có ý nghĩa gì, dĩ nhiên có những ý kiến rất khác biệt.nhau, nhưng sự trao đổi ý kiến không thể xảy ra bởi vì tất cả mọi người giả định một cách rất đúng đắn rằng mọi người ai cũng đã biết rằng đó không phải là ý họ muốn nói như điều họ đã nói ra.Nếu những đám cháy không có nghĩa là lửa, do đó quan tâm đến những đám cháy hoặc sẽ là kẻ hời hợt – bởi vì những đám cháy chỉ có thể là những đám cháy khi không đốt cháy – hoặc là ta phải quan tâm tới vấn đề đốt cháy dù rằng lửa thực không có nghĩa là nước. Những ai tiếp cận với vấn đề từ ngả ý nghĩa của từ ngữ phải nghĩ, chẳng có cách chi tránh được, về nước, còn những kẻ tiếp cận vấn đề từ phía hoàn cảnh của người phát ngôn thì bị cấm đoán không được nghĩ về lửa. Trong khi người trong trường hợp đầu nghĩ rằng thực sự có một trân lụt ở mức độ chưa từng xảy ra đang đe dọa xứ sở, thì người trong trường hợp sau lại nghĩ rằng thay vì dập tắt những đám cháy có thực, những người lính cứu hỏa đang châm mồi những đám cháy giả. Bởi vì nếu như ta có thể nói về một đám cháy không thiêu rụi cái gì cả, vậy thì với cùng một lý do người ta có thể nói về một đám cháy giả thực sự thiêu rụi sự vật trên đường lửa đi qua và đám cháy giả đó cũng chẳng kém nguy hiểm so với một trận hỏa tai, trên thực tế một trận hỏa tai lại có nghĩa là một trận lụt.

Sự tránh né của tập thể việc hiểu biết về sự nguy hiểm đáng kể vào những giờ buổi trưa đã tạo ra một sự căng thẳng bao trùm, trong những ngôn ngữ khác cho đến nay sự căng thẳng này được nói tới như một sự căng thẳng của trách nhiệm cảm nhận được về sinh mệnh của quốc gia. Nhưng lại không phải như vậy đối với người dân Hungary vào lúc bấy giờ. Bất kể ý kiến cá nhân của họ là gì, mọi người đều cảm thấy cái mùi hăng nồng của khói, nhưng dù cho họ có nói ra bất kỳ cái gì tương tự như vậy giữa họ với nhau, nhưng họ lại phát biểu một cách tập thể rằng một cơn giông tố mạnh chưa từng có sắp xảy ra – liệu bầu trời có sẽ không hoàn toàn đen kịt không? – mặc dù từng cá nhân họ biết rằng cả lũ lụt lẫn đám cháy giả đều chẳng thể sinh ra khói, do đó không có giông tố nào có thể là hậu quả phát ra từ những thứ này. Rồi sau đó chương trình tin tức buổi tối đưa ra một bản tường trình thật chi tiết về những biên cố đã xảy ra.

Để có được nhận thức tốt hơn về những biến cố này, chúng ta cũng nên nói thêm về những vị phụ nữ đảm đang và những đấng nam nhi bất khuất là những kẻ đối với họ việc đọc to lên những tin tức công chúng cần lưu tâm đã trở thành không những là một nghề mà còn là một lối sống có sự tham dự của cả linh hồn lẫn thể xác. Trong những năm tháng ấy người dân Hungary đã trở thành rất bình đẳng về mặt tư tưởng và hành xử, và chính vì vậy cho nên căn cứ vào cái bộ dạng bên ngoài của họ, họ khó có thể nào phân biệt được mình khác với những kẻ khác ra sao. Đó là một đặc điểm của họ, thí dụ như vậy, rằng họ đã sinh ra đời với tư cách một kẻ trưởng thành, và vì không còn có cái gì để trưởng thành nữa, họ cứ mãi mãi là trẻ thơ như thế. Trường học đã trở thành không cần thiết. Với tư cách một kẻ đã trưởng thành họ có thể dạy bảo bất kỳ ai về bất kỳ một vấn đề gì vì chẳng còn kẻ nào còn là trẻ con nữa; trong khi đó nếu như còn là một đứa trẻ thì ai cũng có thể học hỏi được một điều gì đó từ tất cả mọi sự bởi sẽ chẳng còn ai có thể trở thành một kẻ trưởng thành. Và nếu khi kẻ đó chỉ có một mình không có ai lảng vảng chung quanh nữa, chỉ khi đó kẻ này mới có thể sữ dụng cái bản ngã của mình vào những mục tiêu học tập, và vì điều này đã trở thành một đặc điểm chung và bất biến của mỗi người dân Hungary lý do vì đứng trong vị thế của một đứa trẻ con thì chẳng có kẻ nào ý thức được khi mình trưởng thành sẽ có` thể học hỏi được điều gì. Tuy nhiên, ngay giữa chính sự bình đẳng này lại có những cá nhân tự hiến thân mình, cốt để cho sự bình đẳng được trọn vẹn và toàn hảo, nên đã phải giữ cho mình bình đẳng hơn người khác.

Chúng ta phải coi cái giả thiết theo đó những cá nhân bình đẳng hơn người khác là những kẻ cai trị đất nước là không công bằng và vô trách nhiệm. Trong công trình nghiên cứu và truy tầm hiện thời chúng ta không có chứng cớ nào chỉ ra rằng có bất kỳ kẻ nào trong bọn họ từng chia xẻ sự hiểu biết của mình cho bất kỳ ai. Ngay giữa bọn họ với nhau họ đã chẳng làm vậy hay với một đối tượng họ có quan hệ cũng thế, và vì vậy cho nên sự khác biệt giữa những kẻ cư ngụ trong nước được thông tin đầy đủ và những kẻ cũng ở trong nước nhưng không được thông tin đầy đủ về những vấn đề công cộng chỉ giản dị là một vấn đề hình thức. Những cư dân không được thông tin đúng đắn về những vấn đề chung, trong trường hợp họ đi vào cuộc sống để tìm kiếm lợi lộc cá nhân, vì đã rút ra được kinh nghiệm bản thân khi bị thông tin sai lệch về những vấn đề chung, đã bám riết vào sự mặc nhiên đồng thuận rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cái nhận thức cá nhân họ học hỏi được từ hiện thực cách chi lại có thể trở thành nhận thức tập thể được. Còn những cá nhân được thông tin đầy đủ về những vấn đề chung, cũng bám riết vào sự đồng thuận, khi họ bước vào sinh hoạt vì lợi ích chung của mọi người, tin chắc rằng chỉ khi nào một tập thể mù tịt về mọi sự mới có thể đảm bảo không có kẻ nào nắm trong tay nhận thức cá nhân. Những cá nhân mù tịt thông tin giả đò như chẳng hề có nhận thức về vấn đề liên quan, chỉ có nhận thức tập thể thôi, còn những cá nhân nắm vững thông tin cũng giả đò coi như việc công chúng mù tịt là nhận thức cá nhân chỉ riêng mình nắm. Như vậy thật lô-gích vô cùng. Chung cuộc, một cá nhân, chẳng phải vì lổi của mình, không được có kinh nghiệm về những vấn đề công thì làm sao người đó có thể đóng góp cái phần nhận thức cá nhân của mình vào tư duy tập thể? Về phương diện này chắc chắn chúng ta có thể bàn về sự bình đẳng thiết yếu của kẻ cai trị và người bị cai trị. Những kẻ cầm quyền cai trị chắc chắn chẳng thể nào giới hạn được quyền tự do có nhận thức cá nhân của người bị trị, nhưng người bị trị cũng lại chẳng thể giới hạn được quyền tự do của kẻ cai trị coi tập thể chẳng có nhận thức gì hết. Ở Hungary vào thời điểm đó ai cũng có thể ra tay hành động về bất kỳ điều gì mình chẳng hiểu biết gì, và ai cũng có thể nghĩ tưởng một cách công khai về cái bất kỳ đó mà họ đã chẳng có suy nghĩ gì. Và nếu như người Hungary, với cái vô thức rất cao thượng và hấp dẫn đó, đã xoay sở để không đẩy xứ sở của họ vào cảnh hỗn mang của sự tàn phá , chính là vỉ ttrong bọn họ còn có những kẻ bình đẳng hơn mọi người. Những cá nhân đó chính là những kẻ trình bày tin tức.

Những kẻ trình bày tin tức Hungary giống như đúc bất kỳ người dân Hungary, nhưng ngay vào lúc chúng mở miệng ra thì chúng hoàn toàn không giống người khác về mọi mặt. Những kẻ này giống hệt những người Hungary khác bởi vì chúng chẳng kém thành công trong việc trộn lẫn hai con người trưởng thành và trẻ thơ làm một trong con người chúng. Nhưng trong khi một người dân Hungary bình thường ở bất kỳ một thời điểm nào cũng có thể trút những quan điểm riêng của mình về đời sống chỉ cho một nhúm người khác thì những kẻ trình bày tin tức lại có thể chỉ dạy, cho kể cả bọn chúng, bất kỳ người Hungary nào khác, tuy nhiên chúng khác hẳn với những người Hungary khác ở chỗ họat động chỉ dạy của chúng rất có thể chẳng có ảnh hưởng gì. Khác hẳn với thành phần dân chúng còn lại là những người có thể giải thích điều mình nghe thấy theo sở thích riêng thì những kẻ trình bày tin tức đã phải giả đò, dù thích hay không, rằng mình chẳng hiểu một chữ nào về bất cứ điều gì chúng nói với đất nước. Chúng là những kẻ sinh động trong việc dạy bảo mọi người nhưng lại rất ù lỳ trong việc học hỏi bởi nếu như chúng là loại người không thể hiểu một chữ nào trong những lời mình nói ra – không phải là những cá nhân – do đó chúng có thể nhập thể một cách rực rỡ nhất cái sự không biết gì của tập thể vốn là sở hữu của bất kỳ người dân Hungary nào. Và nếu như tôi có thể trình bày một cái gì đó có thể tìm thấy được nơi mọi người, như thế chẳng phải là đã quá đủ để cho cá nhân tôi nhiệt thành hay sao.

Về mặt dạy bảo người khác, không một ai có thể là người lớn hơn những tay trình bày tin tức, vì chúng dạy bảo mọi người nhưng lại chẳng có ai có thể thơ ngây hơn được bọn này, vì chúng đã chẳng biết được điều gì từ chính những lời mình phát ra. Thế nhưng nếu chúng giả đò như mình hiểu điều mình nói ra, thì mọi người lập tức có thể thấy là chúng điên rồi, vì điều này có nghĩa là chúng đã hiểu biết một điều gì đó trong thực tế chẳng có ý nghĩa gì cả. Chính vì vậy chúng đã không giả đò hiểu gì ráo trọi. Và điều này quá là hữu lý trong cái việc làm cho chúng ù lỳ.

Cũng còn một lý do khác nữa trong việc phải nhìn nhận rằng không thể nghi ngờ được là chúng được đông đảo quần chúng biết tới khó ai bì kịp. Trong những ngày vào thời đó người Hungary chỉ dùng vỏn vẹn có ba chữ khi nói năng thôi. Mặc dù những chữ này được rút ra từ những chức năng căn bản của đời sống thực đấy nhưng chúng lại mất hẳn những ý nghĩa nguyên thủy. Một chữ để chỉ sinh hoạt, chũ kia để chỉ đối tượng sinh hoạt, và chữ thứ ba là chữ thay thế cho tất tật mọi tính từ và trạng từ có thể có được. Chúng ta rất có thể không những sẽ xâm phạm thuần phong mỹ tục công cộng mà còn dẵm bừa lên những giới hạn của việc nghiên cứu kinh điển nếu như chúng ta còn nói thêm nữa về ba chữ đó. Tuy nhiên chúng ta không thể làm ngơ về sự kiện ngay trong việc nói năng hàng ngày những kẻ trình bày thông tin với tư cách những cá nhân lại đã sử dụng không một chữ nào khác ngoài ba chữ đó, giống như mọi người, ngay khi chúng xuất hiện nơi công cộng, chúng đã sử dụng một thứ ngôn ngữ không ai dùng cả. Và điều này gây ra vô vàn những sự khúc mắc cho bất kỳ người dân Hungary nào. Đại để điều đó có nghĩa là quả thực đã có một thứ ngôn ngữ công cộng trước đó chưa từng có, và điều đó cũng để nhắc nhở quần chúng rằng cái ngôn ngữ không những quả thực có đó mà còn, qua sự đồng thuận chung có được bởi một sự trùng hợp may mắn, có thể có.

Trong cái đêm hè phần lớn đất nước Hungary đang trong vòng những ngọn lửa thì lại đến lượt cái giọng phụ mẫu ngọt ngào, thân thuộc một cách đặc biệt của những kẻ trình bày thông tin lên tiếng. Thật chẳng phải là quá đáng khi nói rằng ngay giữa đám những kẻ bình đẳng hơn giữa những kẻ bình đẳng, cô ta là kẻ bình đẳng hơn ai hết. Từ cô ta những người dân Hungary được thông báo về từng sự cố thốt ra từ trái tim nhiệt thành cổ cũ hay bão táp tang tóc xảy ra trong thế kỷ trước và trong một nửa lịch sử của người dân, và vì vậy những cư dân biết ơn của xứ sở chẳng còn thể làm gì khác được hơn là đem cô ta nhốt vào trong tim mình. Sự nổi tiếng ngoại hạng của cố ta có được là do sự cố gắng tinh thần ngoại hạng của cô, một thứ cố gắng kẻ khác hằng mong mỏi nhưng chẳng thể nào đạt tới được và nhiều nhất thì họ cũng chỉ có thể bắt chước cô là cùng. Chứng bệnh phân đôi bản ngã không những đã phân nhân cách cô thành hai mảnh, cũng như nó đã phân những người dân Hungary bình thường, mà thành ba mảnh. Hậu quả là cô ta không những chỉ có thể trình bày, với sự tin tưởng hoàn toàn và hoàn toàn nhập một với một văn bản bề ngoài cô ta chẳng hiểu một chữ nào, nhưng với giọng nói nhấn đúng chỗ phải nhấn, mặt khác cô ta có thể báo cho người nghe phải hiểu điều gì khi đứng ở vị thế tập thể mù tịt mọi sự, khi nghe được tất cả những chữ vô nghĩa đó, và ở mật mặt khác, khi đứng từ quan điểm nhận thức cá nhân của mình, điều gì họ không được hiểu về những thứ, mặc dù họ đã tận mắt nhìn thấy cũng chẳng quan trọng, là chẳng có ý nghĩa gì. Người phụ nữ này vừa là một cái máy nước tuôn thông tin, một bà thầy bói, và một tay tiên tri.

Tôi phải khởi đầu câu chuyện với lời tuyên bố thê thiết buổi tối hôm đó cô ta đã bắt đầu bằng giọng nói không vẩn đục của cô gửi đến những người vẫn còn đang lắng nghe cô. Trong lúc sự duyên dáng khó cưỡng lại được của nữ tính chín muồi làm khuôn mặt cô rạng rỡ lên thì cô ta bỗng ấp úng ngập ngừng rồi bặt tiếng luôn, như thể cô ấy bị chết chìm trong một trong những chữ thông thường cái lưỡi trơn nhẫy của cô đã quá quen phát ra. Cô ta hiểu rằng đồng bào cô có thể hiểu nhiều hơn những chữ không được phát ra, bởi vì họ không những hiểu chữ nào là không có ý nói như vậy mà còn cả nghĩa của nó khi đặt vào tương quan với hoàn cảnh lúc nói. Lập tức ngay sau đó – như thể nhắc nhở sẵn, đứng từ góc nhìn nhận thức cá nhân, tới những chữ diễn tả việc quần chúng không hay biết rằng những chữ lát nữa thoát từ cửa miệng của cô– nét mặt cô bỗng trông có vẻ hầm hầm, sự mỉa mai toát lên. Cô ta nói, mặc dù có những lời đồn thổi lan truyền về việc nước Hungary bị cháy, nhưng dựa trên cơ sở thông tin nhận được từ những nguồn đáng tin cậy, ta có thể khẳng định rằng cuộc sống trên toàn thể đất nước vẫn tiến hành như thường lệ, bình ổn, chẳng có gì trục trặc cả. Chẳng có ai cho phép bất kỳ người nào nghe theo những lời đồn thổi. Khẩu phần thịt cho mỗi người đang được nấu trong bếp; trẻ nhỏ đứa nào cũng đang đánh hàm răng sữa, đúng như bổn phận nó phải làm; và những guồng máy chẳng bao lâu sẽ sớm họat động. Cô ta đưa những nhận định này ra bằng một giọng đầy tình cảm dịu dàng, hai mắt cô nhạt nhòa những giọt nuớc mắt thực sự. Cô nói bằng giọng đầy thách thức, cô ngẩng mặt lên một cách quả cảm phi thường, rằng “Những kẻ nào không chịu tin như vậy, hãy cứ để cho chúng tìm tòi.” Cô ta chơi trò thủ thân. Dĩ nhiên, theo cái thứ tiếng Hungary của thời đó, thì một sự thử thách có nghĩa là một lời tuyên bố khẳng định, vì thế cho nên ngay những người Hungary nào còn đang trong một hoàn cảnh họ có thể tìm tòi xem xét, liền thôi ngay. Người phụ nữ xinh đẹp đã chẳng nói gì thêm về những hồi còi chữa cháy đã được nêu ra, cô ta cũng chẳng dùng tới cách phủ nhận những nguồn tin ác cảm của những cơ quan thông tấn để phủ nhận những lời đồn thổi đang lan rộng. Bằng một nụ cười khinh bỉ tất cả những linh hồn dễ tin, cô ta hăm dọa rằng rất có thể một trong những nguồn phát tán tin đồn là một bản báo cáo nói rằng trong mấy ngày vừa qua, trong một cuộc kiểm tra hàng năm của Viện Thiết Kế Bản Đồ Quốc Gia, đã có một số bản đồ được đem đốt bốn góc.

Song le làm như vậy là cô ta đã mắc phải một lỗi lầm vô phương cứu chữa. Cái bản tin trước mặt cô nói rằng những tấm bản đồ lỗi thời của nước Hungary đã được đem đốt đi, nhưng điều cô lớn tiếng tuyên bố lại là những tấm bản đổ của xứ sở lỗi thời đã được đem thiêu hủy. Rành rành điều này gần như có nghĩa rằng sự thực là như vậy.

Trong những bàn tay của những cư dân Hungary thoát hiểm sống sót những củ khoai tây quấn ngò, những trái dưa leo muối chua, và những miếng gà nướng vỉ đã nằm bất động không được nhai trong miệng họ. Tất cả mọi người nhìn chằm chằm vế phía trước; mọi người tự ý im bặt và im bặt cho bản thân. Và sự việc này được thi hành để tạo nên một sự im lặng ngầm nói lên rằng, dù cho ý kiến của kẻ nào cho tới giờ phút đó có đúng với thực tại vụ việc như thế nào chăng nữa, nhưng không ai có thể làm ngơ không biết tới sự im lặng đó. Không có chữ nào có sức mạnh hơn sự im lặng tập thể. Mỗi người dân Hungary phải đồng thời nhìn nhận điều này, và lý do cũng vì nhờ có sự trùng hợp may mắn này, nhận thức niềm im lặng của mỗi người đã trở thành sự im lặng tập thể. Trong khi những khung cửa sổ vẫn rộng mở.

Mỗi người có thể nghe thấy sự im lặng của mình, và sự im lặng này cũng chẳng khác gì sự im lặng của chòm xóm. Sự im lặng không quấy phá sự im lặng. Và cũng bởi một người có nhiều hàng xóm, cho nên không thể tránh cảm thấy cái sự im lặng trong mỗi người là sự im lặng họ cảm thấy toát ra từ kẻ này sang kẻ khác. Sự im lặng của một người Hungary này đã trở thành sự im lặng của một người Hungary khác. Sự im lặng trở thành quá đỗi tập thể đến nỗi không có cách chi qui định được sự im lặng nào là thuộc về ai, dù rằng bất kỳ ai, môt cách cố định, mỗi người đã là thuộc về chính bản thân mình.

Trong cõi sâu thẳm của sự im lặng của họ, tất cả mọi người đều nghe thấy tiếng những ngọn lửa hừng hực của đám cháy. Nhưng không ai cất tiếng nói ra một điều gì. Bởi vì kể từ thời khắc đó trở đi, thật may mắn cho tất cả chúng ta, không còn ai biết cái gì khác hơn là điều những người khác có thể cũng đang suy nghĩ.

Trong lúc trong giếng vẫn còn có nước.

đào trung đạo chuyển ngữ

( Theo bản tiếng Anh của Imre Goldstein, FIRE and KNOWLEDGE, Farrar, Straus and Giroux xuất bản 2007, trang 268-275)

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s