Ngược Dòng Thời Gian (Thiên Lý)

Ngược Dòng Thời Gian
(Giải nhì sáng tác hồi ký 30/4 / Báo Đa Hiệu số 90)

congnamquan2

Những kỷ niệm về cha

Cha tôi đang ngồi đó, trên bàn thờ trong một khung hình chữ nhật được viền quanh bằng những mảnh gỗ nâu nho nhỏ. Mắt cha như đang hướng về phía chân trời nơi có một giấc mơ về sự thành đạt của các con, cùng một nỗi ưu tư về cuộc chiến tranh tương tàn mấy chục năm đã qua, và nỗi buồn cho số phận tù đày của một người lính. Hôm nay là ngày giỗ thứ mười một của cha, như thông lệ, dù có bận rộn đến đâu, chị em tôi vẫn phải dành một ngày họp mặt nhau ở thành phố Salt Lake để cúng cha, và cũng để ôn lại những kỷ niệm vui buồn khi cha còn sống trong gia đình. Năm nay, chỉ riêng một mình tôi là không về họp mặt được, thời tiết khắc nghiệt, vé tàu bay lại quá đắt, chỗ tôi ở phải bay hai chuyến mới tới được Utah. Tôi đành phải ngồi lại đây mà hồi tưởng đến cha một nình!

Trong trí nhớ mờ nhạt của tôi, chầm chậm hiện ra một khung trời tươi mát ở vùng cao nguyên Đà Lạt, với nhiều đồi thông bao bọc chung quanh những thung lũng nên thơ và những vườn rau xanh ngan ngát. Cũng chính nơi này tôi đã trải qua thời kỳ niên thiếu và còn giữ lại chút kỷ niệm với cha tôi trong suốt thời gian ấy. Đó là những ngày cha dắt chị em tôi đi chơi ở Đồi Cù, hoặc xuống thác Cam Ly xem voi, rồi lên khu chợ Hoà Bình đi dạo, khi đi dạo lúc nào cha cũng mua cho chúng tôi bánh mì “baguette”nóng giòn mới ra lò ở hiệu bánh mì Vĩnh Chấn. Có khi cha chở chúng tôi đến vườn hoa Bích Câu để chụp hình.tvbdl1jpg

Vào những ngày lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hay là ngày Quốc Khánh, cha thường cho chị em tôi vào trường Võ Bị để xem sinh viên diễn hành. Chúng tôi rất vui thích khi được tận mắt nhìn đoàn sinh viên Võ Bị oai nghiêm trong bộ lễ phục trắng, chân bước đều, thẳng thắn trong tiếng kèn và tiếng trống vang dội hào hùng.

Thuở nhỏ, tôi yêu cha tôi nhiều hơn mẹ, mặc dù cha rất ít gần gũi các con và thường vắng nhà luôn. Nhưng mỗi khi cha ở nhà là chị em tôi lại xúm xít bên cha để nghe cha kể chuyện võ hiệp Tàu., và có khi cha còn dạy chị em tôi hát, những bài hát như là:

“Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng …” rồi bài: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường …” Đặc biệt những đêm mưa dầm trời lạnh buốt, cha mua bắp nướng cho chúng tôi ăn. Tôi không sao quên được cái huơng vị thơm ngon của bắp cùng với khung cảnh đầm ấm của cha con tôi bên nhau, và bằng giọng kể chuyện diễn cảm, cha đã biến câu chuyện võ hiệp thành một vở kịch sống động trong đầu óc giàu tưởng tượng của tôi lúc bấy giờ. Tôi đã nghĩ trong đầu cha tôi hẳn phải có một kho chuyện đủ loại từ chuyện cổ tích, chuyện đường rừng đến chuyện võ hiệp, chuyện lịch sử, chuyện trinh thám… Một lần tôi hỏi cha:

“Sao bố có nhiều chuyện để kể vậy bố?”

Cha cười bảo:

“Bố đọc ở trong sách ra chứ đâu, sách giúp mình biết được nhiều chuyện hay lạ lắm con biết không?”

Thật vậy đọc sách là thú vui của cha tôi, ngày đó nhà tôi giống như cái thư viện nhỏ, kệ sách của cha choán hết mọi chỗ trong nhà từ góc tường này đến góc tường kia. Cha cũng thường khuyến khích chúng tôi đọc sách như cha. Tôi còn nhớ cuốn sách đầu tiên cha mua cho tôi đọc là cuốn: “Tấm Lòng Vàng” của Nguyễn Công Hoan, sau đó là cuốn “Nhánh Rong Phiêu Bạt” của Võ Hồng, tiếp đến là “Thềm Hoang” của Nhật Tiến và còn rất nhiều sách truyện thiếu nhi của các nhà văn khác như: Duyên Anh, Từ Kế tường, Đinh Tiến Luyện, Tô Hoài…Dần dần văn học đã đi vào đời sống tuổi thơ của tôi như một giòng nuớc mát truyền từ cha. Tuy cha tôi là một giáo sư dạy toán, song cha lại rất yêu thích văn chương và âm nhạc. Hồi ấy, cha tôi có một cây sáo tây rất đẹp đựng trong cái hộp dài có bọc nhung đỏ cả trong lẫn ngoài. Cha đã mua cây sáo ấy tận bên Pháp khi còn là sinh viên du học, những lúc rảnh rỗi cha tôi thường lấy nó ra lau chùi và thổi vài bài chơi.Những năm tháng khi cha tôi còn làm việc ở Sài Gòn, ngoài giờ đi dạy thêm thỉnh thoảng cha tôi cũng có viết bài cho tờ báo “Khởi Hành”, tờ báo do một vị sĩ quan bạn của cha làm chủ nhiệm. Những câu chuyện của cha tôi viết lúc đó chỉ xoay quanh đề tài học đường.

Cha tôi còn rất thích nghiên cứu văn học Trung Hoa. Tôi không giống được cha tôi ở đặc điểm: “văn (toán) song toàn” khi mà văn học gần tôi bao nhiêu thì toán học lại càng xa tôi bấy nhiêu, và dù văn học đã đem lại cho tôi nhiều kết quả tốt đẹp ở trường, cha mẹ tôi vẫn không lấy đó làm vui. Mẹ thì quan niệm cuộc đời không phải là một bài thơ, hay một bài văn, mà cuộc đời là một bài toán. Mẹ sợ văn thơ sẽ nhiễm vào tôi cái tính lãng mạn, dễ sa ngã trong tình cảm sau này, thế nên mẹ tôi rất nghiêm khắc, và kiểm soát tôi khắt khe trong việc viết lách. Khác với mẹ, cha tôi chẳng khuyến khích, cũng không nỡ ngăn cấm tôi như mẹ đã từng ngăn cấm.

dl11Khi tôi bắt đầu lên trung học đệ nhị cấp, cha tôi đi làm thêm rất nhiều giờ tôi càng ngày càng ít gặp cha hơn. Sáng nào cũng thế, cứ nghe những tiếng chim hót ríu rít trên đầu ngọn thông là tôi thức giấc, tiếng chim như chiếc đồng hồ báo cho tôi biết một ngày mới đã bắt đầu. Thế mà cha tôi đã bắt đầu một ngày mới sớm hơn cả tiếng chim hót, và khi cha trở về thì chị em tôi đã lên giường ngủ. Tôi còn nhớ có một buổi sáng chủ nhật, tôi chợt thức giấc không phải vì nghe tiếng chim ríu rít quen thuộc, mà là tiếng nổ xe rất lớn từ chiếc Vespa của cha tôi (cha tôi thường lái Vespa đi dạy thêm ngoài giờ). Buổi sáng hôm đó trời rất lạnh vì có những cơn mưa bão từ mấy hôm trước, đường đất đỏ lầy lội. Cha tôi đã chuẩn bị lái xe đi làm trên con đường đầy bùn đất đỏ dưới cái lạnh buốt giá, trong khi tôi vẫn còn nằm trên giường với chiếc chăn ấm. Lúc ấy, tôi vùng dậy và chạy ngay đến bên cửa sổ định hỏi cha tôi: “Sao hôm nay chủ nhật mà bố cũng phải đi làm?” nhưng tôi đã chẳng kịp hỏi cha được câu nào, chỉ nhìn thấy một đám khói của chiếc xe Vespa còn vương lại phía sau bóng cha. Tôi cảm thấy thương cha tôi làm sao, khi tôi nhận ra rằng cha đã làm việc vất vả biết bao để nuôi nấng chúng tôi. Tôi chợt mơ ước sao cho mình thật mau lớn để đi làm kiếm tiền phụ giúp cha.

Chiều hôm đó, cha tôi mang về cho tôi hai cuốn sách, một cuốn là: “Cánh Hoa Chùm Gửi” của Quỳnh Dao và cuốn kia là “Trong Móc Mưa Hạt Huyền” của Túy Hồng, cha bảo:

“Này con Mai, bố cho hai cuốn sách này con đọc được đấy, truyện rất khá!”

Cha còn dặn tôi rằng:

“Khi đọc truyện, con đừng nên chỉ đọc lời đối thoại không, mà phải chú ý đọc cách hành văn và lối diễn tả nhân vật hay cảnh vật của tác giả, như thế mình mới cảm nhận được cái hay của ngôn ngữ.”

Tôi cảm động lắm vì thấy cha hãy còn quan tâm đến việc đọc sách của tôi. Tôi định bụng nếu có dịp nào tôi sẽ làm một cái gì đó để tặng cha.

Vào đầu năm 1975, trường tôi dự định làm một tờ đặc san cho trường để bán gây quĩ “cây mùa xuân chiến sĩ ”, và để chọn những bài viết hay cho đặc san, nhà trường đã tổ chức một cuộc thi viết về: “ Mùa Xuân, Tuổi Trẻ và Quê Hương” .Năm ấy, chiến sự hãy còn sôi nổi ở nhiều nơi, cha tôi phải cấm trại luôn, ban ngày cha tất tả về nhà, ăn vội chén cơm rồi lại ra đi, tôi thương cha quá. Thế là trong đầu tôi nẩy sinh một bài viết cho cha. Tôi tham dự cuộc thi với bài viết chân thật giản dị về người cha yêu quí của tôi. Khi nộp bài tôi mới thấy bài của tôi thật lạc lõng giữa những bài viết có nhiều nội dung phong phú về xuân thật dễ thương. Sau một tháng, nhà trường công bố kết quả, điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là nghe bài của tôi đoạt giải nhất, và lễ phát giải thưởng sẽ được tổ chức vào trung tuần tháng ba tới. Hôm đó, tôi cứ đờ người ra không biết là thật hay mơ. Thực sự, tôi không mong ước mình sẽ đoạt giải, chỉ mong là bài mình sẽ được đăng trong tờ đặc san nhà trường để mang về khoe với cha tôi như một lời cám ơn vậy. Khi cô hiệu trưởng gọi tên tôi và nói: “Bài của em viết hay lắm, đọc rất cảm động.” tôi mới lúng túng:

“Dạ.. thưa cô em … em…cứ nghĩ là bài của em không đúng với chủ đề mùa xuân.”

Cô từ tốn bảo:

“Đâu phải chỉ có mùa xuân thôi đâu, mà còn có cả tuổi trẻ nữa, tuổi trẻ ngày nay nghĩ gì và làm gì cho gia đình, quê hương. Cô thấy tuổi trẻ bây giờ ít ai chịu nghĩ đến cha mẹ lắm. Em đã nghĩ đến cha em thì đó là phần thưởng xứng đáng cho em rồi đấy.”

Rồi cô vỗ vai tôi bước đi. Tôi vui sướng thầm nhủ sẽ giữ bí mật này cho đến ngày nhận giải, tôi sẽ đem về cho cha mẹ tôi một sự ngạc nhiên.

Khoảng hai tuần sau vào một buổi sáng tháng ba, tôi cắp sách đến trường thì thấy các bạn trong lớp chỉ lác đác vài đứa, bao nhiêu sự hân hoan chờ đón ngày phát thưởng trong tôi chợt vụt tắt, bởi tôi linh tính một chuyện gì đó không may sẽ xảy ra. Đúng vào lúc đó một đứa bạn gái chạy đến hỏi tôi: “Mày có biết Việt Cộng đã “lấy” Buôn Mê Thuột đêm qua không?” tôi giật mình kinh ngạc: “Thiệt hả?” Vừa hỏi dứt lời thì tôi nghe một tiếng nổ lớn, tiếp theo là vài tiếng súng bắn lẻ tẻ, tôi và các bạn gái giật mình cuống quít chạy tứ tán… Sau đó nhà trường thông báo cho các học sinh nghỉ học vì tình hình an ninh đang báo động. Tôi vội vã trở về nhà thì lệnh giới nghiêm cũng vừa ban hành. Thế là ngày phát thưởng không còn nữa, tôi cứ tiếc là đã không tặng được cha bài viết của tôi, bài viết mà tôi đã muốn thay lời nói để bày tỏ lòng yêu thương, quí trọng đối với cha. Tôi cũng tiếc đã không nhận được giải thưởng cuối cùng trước khi tôi từ giã nền giáo dục dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Rồi thì gia đình tôi đã rời khỏi vùng đất đỏ cao nguyên dọn về Sài Gòn bỏ lại vườn tược, nhà cửa, và bao kỷ niệm êm đềm khác của riêng tôi.

Những năm tháng vắng cha30041975_xetangVC

Cuối tháng 4 năm 1975, bùng nổ một sự kiện lịch sử đầy sợ hãi và lo lắng cho người dân miền Nam: Việt Cộng chiếm miền Nam!!! Ngay cả tôi, một con bé vừa tròn mười lăm tuổi, đâu đã hiểu biết gì nhiều về cuộc chiến tranh hôm qua, cũng đã cảm thấy một thất vọng não nề, một bầu trời u ám, một tương lai tối đen cho gia đình tôi nói riêng, và cho cả miền Nam nói chung. Cái bóng đen kinh hoàng ấy đã bao trùm xuống gia đình tôi từ lúc cha tôi bị đi “cải tạo”. Mẹ tôi đã phải chống chọi với mọi khó khăn trong thời điểm mở đầu rất khắc nghiệt của chế độ Cộng Sản, lao vào cuộc sống mới giành giật từng miếng cơm manh áo cho tất cả mười đứa chúng tôi và một bà ngoại già yếu. Thế nhưng, với hai bàn tay trắng, không chút kinh nghiệm gì với sự bương chải ngoài đời, và cũng không có một sự giúp đỡ nào từ phía họ hàng, người thân hay bè bạn. Mẹ tôi dù đã cố gắng hết sức mình vẫn không kéo được chúng tôi qua khỏi con vực nghèo đói của cuộc đời. Cái nghèo đói tấn công vào gia đình tôi rất nhanh, mỗi ngày tôi đi học với cái bụng rỗng cồn cào đến run rẩy, để chán ngán ngồi nghe những bài giảng về tập thơ “Nhật Ký Trong Tù”của Hồ Chí Minh, để mệt mỏi với những bài ngợi ca về cuộc chiến thắng vĩ đại thống nhất đất nước. Đầu óc tôi bấy giờ chỉ nghĩ đến khi nào thì cha tôi sẽ được nhà nước Cộng Sản thả về? Và khi nào thì gia đình tôi sẽ được trở lại một đời sống bình thường đủ ăn, đủ mặc. Tinh thần tôi suy sụp theo cơn đói và nhất là mỗi khi đi học về tôi lại nghe tiếng gào khóc của em bé tôi trong cơn khát sữa. Tôi chán học, chỉ muốn đi làm kiếm tiền để giúp mẹ. Sau mấy ngày trốn học đi lang thang tìm việc làm, tôi đã chẳng tìm được việc gì ngoài việc làm cho mẹ tôi buồn và khóc. Mẹ đã năn nỉ tôi đi học lại, và mẹ bảo tôi, thử nghĩ xem cha tôi sẽ đau khổ biết chừng nào khi cha trở về trong cảnh gia đình tan nát, các con hư hỏng, bỏ học hành. Nghe mẹ nhắc đến cha, tôi thấy lòng mình ấm lại, mẹ tôi nói đúng, tôi phải đi hết con đường học vấn dù có nhiều chông gai trở ngại, dù phải ngồi hàng giờ, hàng tháng nghe những bài giảng chính trị khô khan, phải cần mẫn với những công tác lao động trong trường, tôi vẫn phải, và luôn phải cố gắng để không phụ lòng cha mẹ tôi.

Saigon Students Supporting Book Burning CampaignVào những năm đầu ấy, nhà nước phát động phong trào “bài trừ văn hóa đồi trụy”. Nhà nào có sách cũng phải đem ra nộp cho văn hóa phường, sách của cha tôi rất nhiều. Trước khi dọn nhà lên Đà Lạt làm việc, cha tôi đã gửi toàn bộ những tủ sách của cha ở nhà cô, chú tôi, đa số là sách khoa học, một số là sách tâm lý giáo dục và sách lịch sử. Nhưng những người cán bộ phường ấy đã không phân biệt được các loại sách hay và giá trị của từng cuốn sách. Sách nào cũng bị xếp vào loại “ văn hóa đồi trụy” hoặc là mang tư tưởng “tiểu tư sản, phản động”, họ buộc phải đem nộp để hủy bỏ. Tôi nhìn những cuốn sách mang đầy kỷ niệm của cha tôi rơi vào tay họ mà buồn đến chảy nước mắt. Sau lần kiểm kê sách đó; tôi cảm thấy chán ghét chế độ đã ngăn cách cha con tôi lại còn cướp đi những giá trị tinh thần quí báu của cha tôi để lại. Tôi càng cảm thấy thất vọng hơn khi nhìn ra con đường tương lai u tối trước mặt mà tôi sẽ phải sống, phải học, rồi trưởng thành dưới tư tưởng của họ.

Tháng 6/1977, sau khi tôi đã thi đậu xong bằng tốt nghiệp lớp 12, tôi cứ tưởng là đã trút được gánh nặng sách vở để bắt đầu đi tìm việc làm. Vậy mà không, mẹ tôi lại muốn tôi thi vào đại học sư phạm. Thật tình, tôi đã chẳng còn muốn đi học lên làm gì nữa, tôi cố trình bày với mẹ những điều tôi được biết về chuyện thi cử rằng: Vào đại học sư phạm không phải là chuyện dễ, học sinh phải có lý lịch trong sạch đến 3 đời. Đó là chưa kể đến diện ưu tiên cho những thí sinh thuộc thành phần đi bộ đội, những gia đình có công với cách mạng, gia đình bần nông hay công nhân… Hơn nữa tôi cũng không muốn trở thành một giáo viên dạy văn dưới chế độ Cộng Sản khi chính trị đã xen lẫn vào văn học. Tôi còn đưa ra gương điển hình của anh trai tôi đã thi rớt đại học năm trước dù rằng anh học rất khá và rất chăm chỉ. Song, những lý lẽ của tôi vẫn không thuyết phục được mẹ, và mẹ tôi với một thái độ vừa cương quyết, vừa nhẹ nhàng, vừa khuyến khích, vừa năn nỉ đã làm tôi không thể trái ý mẹ. Tôi không muốn mẹ tôi lại khóc lần nữa vì chuyện học hành của tôi. Thế là tôi ngoan ngoãn lên đường ứng thí cho mẹ vui lòng sau khi biết chắc rằng tôi sẽ không bao giờ thi đậu.

Những tháng hè chờ đợi kết quả là những tháng ngày hồi hộp và lo lắng nhất, khi trong phường tôi ở rầm rộ lên phong trào “nghĩa vụ lao động” và “thanh niên xung phong.” Thanh niên nam nữ, ai ai cũng phải tham gia một trong hai công tác đó nếu không có công ăn việc làm. Anh lớn của tôi đã phải đi thanh niên xung phong từ năm ngoái vì anh đã thi rớt đại học và cũng không thể tìm được việc gì để làm. Trong thư viết về nhà anh có nói: “Môi trường thanh niên xung phong rất cực khổ và tạp nhạp, không thích hợp cho con gái đâu”, bởi thế mẹ và tôi rất lo sợ nếu tôi không có ngay một việc làm ổn định, tôi phải có nghĩa vụ đi lao động để xây dựng đất nước, đi đào kênh, đi thủy lợi, đi thanh niên xung phong, cái nào cũng ghê!! Tôi không muốn xa mẹ, xa em, tôi chạy vạy mọi nơi tìm việc, trong khi mẹ con tôi đang bối rối thì tôi nhận được giấy báo đi tập trung lao động thủy lợi vào tuần tới. Mẹ và tôi cùng quýnh quáng, mẹ dắt tôi lên phường năn nỉ họ xin gia hạn cho tôi thêm thời gian đi lao động vì tôi đang chờ kết quả thi đại học. Mẹ tôi cũng hỏi có cách nào cho tôi được miễn không, người cán bộ phường nói:

“Nếu không đi thì phải đóng tiền, nhưng việc đóng tiền chỉ dành cho những người sức khoẻ kém, hoặc ở tuổi trung niên, con chị là thanh niên thì phải thi hành nghĩa vụ.”

Mẹ con tôi ra về trong nỗi buồn lo đến méo xẹo mặt mũi. Ngày hôm sau, mẹ dắt tôi vào hợp tác xã may mặc chỗ mẹ đang làm cố xin ông tổ trưởng xếp cho tôi một công việc gì cũng được để tôi có thể trì hoãn việc đi lao động.Thương tình mẹ con tôi ông xếp tôi vào tổ làm khuy áo, tổ này đang thiếu người. Tuy nhiên, ông chỉ nhận tôi vào làm công nhật chứ không nhận như một tổ viên hợp tác xã chính thức, vì thế công việc này cũng không thể bảo đảm cho tôi “thoát” được “nghĩa vụ lao động.” Thôi đành chịu vậy, tôi cũng phải làm một cái gì đó để đỡ đần cho mẹ hơn là không làm gì hết, còn chuyện đi lao động, cứ mặc kệ tới đâu hay tới đó.

Tôi lủi thủi về nhà với bao nhiêu rối rắm trong lòng… Rồi một sự may mắn tình cờ đã đến, tôi nhận được thư báo của trường đai học sư phạm ngay khi tôi vừa bước chân vào nhà. Trong thư, nhà trường cho tôi biết là tôi đã không đủ điểm đậu vào đại học sư phạm (tôi đã biết chắc điều này rồi) nên họ chuyển tôi xuống trường trung học sư phạm Mẫu Giáo, và có lẽ vì thành phần lý lịch của tôi không được rõ ràng, nên tôi chỉ được nhận vào học khoá cấp tốc 3 tháng, thay vì học khoá chính quy 1 năm. Tôi hết sức mừng rỡ, càng tốt, chỉ cần học thêm có 3 tháng nữa thôi là tôi đã có một công việc hẳn hoi để giúp mẹ, và cái may trước mắt là tôi đã không phải đi lao động thủy lợi, vì theo thông báo trong thư tôi phải có mặt ở trường thứ hai tuần tới. Tôi bỗng tưởng tượng đến sự vui mừng hiện trên khuôn mặt của mẹ, tôi phải rất cám ơn mẹ tôi về chuyện này, nếu tôi không chịu đi thi đại học như lời mẹ khuyên bảo, thì làm sao tôi có thể tìm đuợc việc làm với mảnh bằng tốt nghiệp lớp 12, lại chưa biết một nghề chuyên môn nào cả. Tôi cũng không nhanh nhẹn như các em tôi để theo những người buôn thuốc tây ngoài chợ trời sau giờ học. Mẹ tôi đã nhìn thấy tôi là một đứa con chậm chạp, không có khả năng lăn lộn với cuộc sống bán buôn và càng vụng về hơn trong những công việc tỉ mỉ chân tay. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao mẹ tôi quan niệm cuộc đời là một bài toán, một bài toán thật hóc búa! Vào thời điểm đó không ai đã có thể tìm ra một đáp số chính xác cho bài toán của cuộc đời mình.

Ngôi trường trung học sư phạm Mẫu Giáo nằm trên con đường đã được đổi tên sau tháng 4/1975 là đường Tôn Đức Thắng (tôi thật sự không nhớ tên đường trưóc 75). Hệ thống giáo dục của trường trong năm học 1977-1978 chia làm 3 hệ đào tạo: Khối A là hệ chính qui học một năm, còn gọi là hệ 12+1, khối B là hệ đào tạo ba năm cho những học sinh vừa tốt nghiệp xong lớp 9, còn gọi là hệ 9+3, và hệ sau cùng là khối C, hay còn gọi là hệ cấp tốc. Thành phần nhân viên trong trường từ các giáo sư, đến khối văn phòng, học sinh toàn là phụ nữ, và tất cả học sinh trong trường đều được gọi là giáo sinh. Trong khi đó cạnh sát bên trường là xưởng đóng tàu “Ba Son” lại toàn là công nhân Nam. Khi vào học khối C, tôi mới biết rằng đại đa số giáo sinh trong khối C là những chị sinh viên đang học dở dang đại học Văn Khoa trước năm 1975, lý do là nhà nước “giải thể” trường đại học Văn Khoa, buộc các sinh viên phải chuyển sang đại học hay trung học sư phạm. Các chị sinh viên ấy đa phần thuộc gia đình “Ngụy Quân, Ngụy Quyền”. Tôi gặp N.A là con gái của một vị giáo sư cùng dạy ở trường Võ Bị Đà Lạt với cha tôi. Chúng tôi được coi như là số ít trong số những học sinh trung học lọt vào khối C của trường này. Mỗi giáo sinh đều có tiêu chuẩn lãnh nhu yếu phẩm hàng tháng như vài ký gạo, một ký đường, hai hộp sữa, và một ít tiền học bổng. Điều này làm tôi thấy yên tâm là tôi có thế tự lo tiền sách vở để bớt đi chút gánh nặng cho mẹ. Tôi lại tiếp tục cắp sách đi bộ đến trường mỗi ngày, lần này con đường đến trường dài hơn con đường hồi còn ở trung học. Sáng nào tôi cũng khởi hành từ nhà lúc năm giờ bốn mươi lăm, và đặt chân đến cổng trường thì vừa đúng lúc còi của xưởng Ba Son hụ bảy giờ, rồi tiếng chuông reo vào học của trường tôi vang theo. Ngày ngày, cơn đói vẫn hành hạ tôi trên đường đi học, tôi cứ phải đếm từng bước chân mình để cố quên cái đói, để nuôi sự kiên nhẫn, và tự nhủ: phải ráng cố gắng, chỉ ba tháng thôi, thời gian sẽ qua nhanh, không bao lâu nữa mình sẽ kiếm được tiền.

Chương trình học thì không có gì là căng thẳng lắm, chỉ có điều kỷ luật của trường quá khắt khe khiến cho tôi chán nản.Thí dụ như khi chuông reo vào học bảy giờ là nhà trường sẽ đóng cửa, học sinh nào đến sau bảy giờ thì coi như vắng mặt. Học sinh không đeo phù hiệu thì bị đuổi về… còn rất nhiều những luật lệ khó khăn khác mà tôi không nhớ hết. Vì là khoá cấp tốc nên thời gian học cũng gấp rút, chúng tôi học từ bảy giờ sáng cho đến bốn giờ chiều, nghỉ một tiếng rưỡi giữa trưa…

Thấm thoát thời gian ba tháng trôi qua, tôi háo hức chờ đợi nhà trường ra thông báo ngày đi thực tập và ngày tốt nghiệp. Bỗng nhiên, một sự kiện lớn đã làm tan biến bao niềm háo hức trong tôi. Nhà nước đưa ra kế hoạch “đánh tư sản” từ cấp phường đến cấp quận, họ dùng các phương tiện báo chí, truyền thanh đế tuyên truyền, lên án, đả kích thành phần tư sản rất ghê gớm.Theo sắc lệnh của nhà nước, tất cả các học sinh trung học chuyên nghiệp, sinh viên đại học khắp nơi đều phải tham gia công tác “kiểm kê chống tư sản”. Và thế là cả khối C của chúng tôi đều bị huy động đi công tác này thay cho việc đi thực tập. Nếu giáo sinh nào mà không tham gia thì sẽ không được ra trường, công tác này cũng tính điểm như điểm đi thực tập vậy. Hôm đó tôi về nhà báo cho mẹ biết chuyện tôi bị bắt buộc đi công tác “đánh tư sản” với sự bực tức hậm hực, mẹ tôi ôn tồn bảo: “ Thôi ráng đi con, gió chiều nào thì phải theo chiều ấy, chống cự làm sao được.”

caitaotusanTôi vẫn không hiểu đánh tư sản là gì? Và tại sao phải đi đánh tư sản? Buổi chiều, tôi được lệnh tập họp ở trường vào khoảng 5 giờ cùng với các chị bạn, chúng tôi bàn tán đủ điều. Ai cũng lo lắng không biết mình sẽ làm gì? Đi đâu? Và điều kiện ăn ở thế nào? Khoảng một tiếng đồng hồ sau có mấy chiếc xe cam nhông đến, người tài xế thúc giục chúng tôi lên xe một cách bí mật. Những chiếc xe cam nhông ấy đã thả từng nhóm học sinh chúng tôi xuống những địa điểm khác nhau, tôi bị thả xuống sau cùng với một nhóm người lạ hoắc ở một khu phố chẳng biết là đâu. Có hai người đàn ông trung niên đón nhóm người lạ và tôi ngay ở đầu xe; họ điểm danh, đếm số rồi dắt chúng tôi vào một ngôi nhà rộng. Tôi thật lo sợ khi nhìn thấy rất nhiều người đàn ông, đàn bà đủ mọi lứa tuổi ngồi chật cả căn phòng, tôi thầm hỏi: “Người ở đâu mà nhiều vậy kìa?” Tiếng nói chuyện ồn ào và hơi người nồng nặc khiến tôi phải bước ra ngoài hiên. Tôi nghe tiếng gào rất to của một trong hai người đàn ông trung niên lúc nãy cố át tiếng ồn thông báo rằng: “Chúng ta có lệnh phải chờ đến sáng sớm mai mới có phân công cụ thể”. Chờ nữa, sao tôi chán ghét chữ chờ quá, tôi cứ đi quanh quẩn trước hiên nhà, rồi thì trời tối dần, muỗi bắt đầu vo ve, tôi đành phải vào nhà, nhìn chung quanh thấy đã có mấy người trải báo ra nằm, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái người nằm, kẻ ngồi san sát bên nhau, trông hỗn tạp làm sao, dễ sợ làm sao! Tôi cố tìm cho mình một chỗ nghỉ qua đêm. Nhìn mãi tôi mới chọn được một góc nhà chật hẹp khuất sau cái cột gỗ, phía trước cái cột có một người đàn bà đang ngồi ngủ gục. Đêm ấy tôi không dám nằm xuống cứ ngồi bó gối nhìn mọi người, lúc nào mệt thì gục đầu trên hai cánh tay. Mới xa nhà có mấy tiếng đồng hồ mà tôi đã thấy nhớ nhà, tôi nhớ mẹ, tôi nhớ bà ngoại, tôi nhớ đến em bé út của tôi, không biết tối nay em sẽ vòi ai quạt cho em ngủ. Tội nghiệp cho em tôi đã hai tuổi rưỡi rồi mà em vẫn chưa biết nói, chỉ ngọng nghịu từng từ một. Rồi mơ màng trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tôi thấy cha tôi trở về nhà với một bao gạo to trên vai, chị em tôi chạy ra mừng rỡ, thi nhau reo hò: “A, bố về, bố về, bố đem gạo cho tụi mình kìa!””. Cha tôi xoa đầu từng đứa và bế em bé út tôi trên tay, rồi cha bảo: “Bố chỉ được về có một tí thôi phải đi bây giờ?” Tôi hỏi cha: “Bố đi đâu?” Cha buồn rầu nói: “Đi vào trại cải tạo”, ngay lúc ấy có hai người bộ đội tới kéo cha tôi đi. Chúng tôi gào khóc: “Không, không, bố không đi đâu, thả bố tôi ra…” trong sự giằng co, xô xát, bao gạo đã đổ ra tung toé trên sân nhà, cha tôi không dám quay lại nhìn đàn con… Tôi đau xót trong cơn mê, cảm thấy đầu mình nặng trên cánh tay và hai đầu gối ướt sũng…Tôi nhớ cha tôi tha thiết…

Sáng hôm sau tôi được phân công về vùng Hậu Giang, Chợ Lớn. Nơi đây tôi phải dự môt cuộc họp với ban lãnh đạo công tác để biết mình phải làm những gì trước khi “ra trận.” Trong buổi họp tôi gặp lại nhiều chị bạn quen học chung khối, tôi rất vui mừng và thấy mình bớt lẻ loi, cô độc giữa đám đông xa lạ. Ban lãnh đạo công tác gồm hai người đàn ông, một người là cụm trưởng khoảng 40 tuổi, nói giọng Nghệ Tĩnh, còn người cụm phó thì trẻ hơn độ khoảng trên dưới 30 nói giọng nam. Anh ta có đôi mắt sắc bén với cái nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện. Cả hai đều là đảng viên của trường đảng Nguyễn Ái Quốc được bổ sung về điều hành công tác “đánh tư sản” này. Một cụm thì khoảng từ 10 đến 15 nhà, mỗi nhà hai ông “đảng viên” xếp ba người vào “đóng chốt”, cứ một học sinh thì đi kèm với hai người dân địa phương. Tôi “bị” đưa vào một nhà tư sản đã từng là đại lý bán trà. Cũng như số phận của bao nhiêu giáo sinh khác, tôi phải giữ chức tổ trưởng để thực hiện công việc kiểm kê trên giấy tờ, và báo cáo hằng ngày cho hai ông trưởng, phó. Hai người địa phương cùng đi chung với tôi cũng còn trẻ, một cô gái và một anh chàng thanh niên chắc chỉ hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi được lệnh phải “canh gác”, “theo dõi” mọi thành viên trong nhà. Khi người trong nhà đi ra ngoài phải cho chúng tôi biết là đi đâu, và nếu họ có xách theo giỏ thì phải khám xét phòng khi họ dấu diếm tài sản để tẩu tán đi nơi khác. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho công việc mình đang làm, và tưởng như mình là kẻ đồng loã với một tổ chức ăn cướp rất lớn của chính phủ.

Gia đình tư sản mà tôi đã được đặt chân vào hơi giống như một tiệm bán thuốc bắc. Vừa bước qua cái cửa sắt là tôi đã thấy ngay môt cái quầy gỗ cong cong hình chữ C, đằng sau quầy là một cái tủ lớn có những ngăn kéo nhỏ. Hai bên phải và trái của cái tủ lớn là những kệ chất đầy thùng sắt tây rỗng sơn đen. Nhìn quanh nhà, tôi không thấy có cái vẻ gì là “tư sản”. Bà chủ nhà là một bà già người Tiều, luôn mặc bộ đồ sẩm màu xanh dương, bà có mái tóc ngắn đã bạc nhiều. Khi tôi đặt chồng giấy tờ trên quầy và ngượng nghịu hỏi bà những câu hỏi về sự thu nhập buôn bán, cùng tài sản của gia đình để tôi ghi vào giấy. Tôi đã đọc được sự đau khổ trên khuôn mặt bà, và nhận ra sự thành khẩn trong lời nói:

“Chời ơi! ngộ nói thiệt cho nị nghe, ngộ nghỉ páng lâu dzồi. Lúc trước puông páng cũng nhỏ thôi, đủ hai bữa cơm qua ngày, đâu có tiền pạc gì nhiều đâu mà khai páo”, rồi bà quay sang phía sau cái quầy vói tay lấy một thùng sắt tây xuống và mở ra cho tôi xem bên trong cái thùng rỗng: “Đây, đây nị coi nè thùng không mà, đâu có trà nữa đâu mà páng”

Tôi ái ngại nhìn bà, thấy tội nghiệp bà quá, tôi gật đầu và hỏi:

“Con tin bà rồi, nhưng nếu bà không buôn bán nữa, sao họ tìm ra thuế môn bài có tên bà?”

Bà chủ nhà chặc lưỡi:

“Ậy, cái thuế môn bài đó là cũ lắm dzồi. Mấy ông cách mạng đó không có chịu nhìn cái năm, cái tháng cho dzõ một chút.”

Tôi thở dài nói:

“Thiệt tình con cũng không muốn làm khó bà đâu, người ta bắt con làm thôi, hay bà cứ nói đại con số nào cũng được để con ghi vào đây?”

Bà chủ nhà lắc đầu:

“Ngộ giờ già dzồi, đâu có nhớ páng lời lỗ pao nhiêu mà nói, pỏ páng lâu dzồi”

Tôi bối rối nhìn tập giấy, những hàng, những cột sao mà rắc rối quá, không biết mình phải ghi làm sao đây để báo cáo mỗi ngày cho hai lão đảng viên dễ ghét kia. Bất chợt tôi nhìn vào cột tài sản, rồi nhìn những thùng sắt tây đen rỗng trên kệ, nhà bà có còn cái gì đâu ngoài những thùng sắt tây này. Một ý nghĩ loé lên trong đầu tôi:

“Thôi vậy đi, bây giờ con với bà sẽ đếm hết những thùng sắt tây này, bà còn nhiều thùng như vậy không, con sẽ ghi vào cột tài sản số thùng rỗng mà hiện giờ bà đang có”

Hình như tôi nói hơi nhanh nên bà chủ nhà ngơ ngác hỏi lại: “Là làm sao, cột tài sản gì?”

Tôi ghé vào tai bà chậm rãi nói: “Tài sản của bà là những thùng sắt tây rỗng này, mình sẽ đếm nó và ghi vào giấy.”

Bà mừng rỡ gật đầu:

“Ồ dzậy thì phải, cám ơn nị nghe, ngộ còn nhiều thùng ở chên gác kìa!”

Một buổi chiều có cuộc họp lớn giữa các cụm với nhau, tôi nghe tin một chị nào đó đã tìm ra mấy cây vàng của chủ nhà giấu trong những nắm than đá. Công trạng ấy đã được xem như một chiến tích lớn lao trong công tác “đánh tư sản”, và càng được thổi phồng khắp nơi trong các cụm, cũng nghe đồn chị đã được kết nạp vào đảng ngay tại hiện trường. Một thành tích dữ dội khác là những thành viên địa phương ở nhà nào đó đã khám phá ra nhiều vải vóc, và những tài sản quí giá được chủ nhà dấu đằng sau bức tường trong nhà. Sau lần nghe những thành tích “nổi cộm” ấy, ông cụm trưởng của tôi không ngớt thúc hối chúng tôi phải kỹ lưỡng hơn trong việc theo dõi chủ nhà, phải cố tìm tòi cho ra những tài sản mà chủ nhà dấu diếm. Ông ta còn ra lệnh mỗi ngày chúng tôi phải báo cáo thêm về diễn tiến của sự tìm tòi, khai thác.

Tôi bắt đầu thấy sợ những buổi họp báo cáo, vì nhà tư sản mà tôi đang “đóng chốt” chẳng có gì để khai thác. Chiều nào đi họp báo cáo, tôi cũng lắc đầu cho qua chuyện. Ông đảng viên cụm trưởng rất bực mình tôi, ông xem lại mớ giấy tờ kiểm kê của nhà tư sản bán trà lẻ, dựa trên giấy tờ tôi làm ông không tin bà chủ nhà đã khai báo thành thực; và tôi đã bị ông khiển trách về sự lơ là trong công việc Ngày hôm sau ông cầm xấp giấy đến nhà bà gặng hỏi: “Sao bà chủ, còn bao nhiêu trà nữa khai ra hết đi, giấu diếm làm gì?” Vẫn khuôn mặt đau khổ và giọng nói thành khẩn, bà cố thanh minh cho cái nghề buôn bán trà lẻ rằng đã chấm dứt, nhưng cái lão đảng viên vẫn tiếp tục tra hỏi. Tôi đã muốn bịt lỗ tai lại để không còn nghe thấy những câu “khảo của” hèn hạ của lão đảng viên ấy.

Mấy ngày sau, tôi bị đơn phuơng chuyển đến một nhà tư sản khác để tiếp tục làm công tác kiểm kê. Lần này nhà tư sản là một tiệm tạp hoá, thật khôi hài vô cùng! Nhìn thấy bà chủ tiệm với vẻ hiền hậu, chân chất, tự nhiên tôi thấy thương cho số phận của những người tiểu thương buôn bán lặt vặt đã bị liệt vào thành phần “ tư sản mại bản” “ bóc lột” nhân dân Không biết họ đã bóc lột nhân dân nào? Tôi vốn không thích những con số từ hồi còn đi học, mà bấy giờ tôi phải ngồi đếm từng mặt hàng trong cửa tiệm để ghi, để cộng, chán chường quá! Sau hai ngày quay cuồng với giấy tờ kểm kê, tôi đề nghị với bà chủ tiệm là tôi sẽ chỉ kiểm những món hàng lớn nào mà bà muốn tôi ghi vào giấy thôi, còn cả bao nhiêu món hàng linh tinh khác tôi phải chịu thua vì quá nhiều., bà chủ tiệm cũng đồng ý với tôi như thế.

Khi công tác “đánh tư sản” hoàn thành, tôi vui mừng đươc trở lại trường để tiếp tục cho xong cái sự nghiệp “trồng người” cấp tốc. Thế mà có xong được đâu, một công tác khác được bí mật thông báo trong nội bộ: công tác “đổi tiền”. Tôi may mắn hơn các chị bạn khác là đã bị lọt sổ ra ngoài chuyến đi đó. Không tham gia công tác thì ngày nào tôi cũng phải đến trường làm những công việc lao động lặt vặt để có điểm thực tập cho mình.Tôi không biết, càng không hiểu nổi là tôi đang được đào tạo trong một hệ thống giáo dục mầm non kiểu gì đây? Đáng lẽ ra tôi đã phải học xong từ ba tháng trước, nhưng khoá học kéo dài đền gần hết một niên khoá rồi, học sinh chúng tôi cứ còn bị cột chặt vào những công tác này, công tác nọ đến bao giờ nữa?…Trong thời gian đó, rất nhiều người đi vượt biên, nhà nước cũng đã tịch thu được rất nhiều nhà vắng chủ. Họ chưa biết sử dụng những căn nhà đó để làm gì, thì vừa khi công tác đổi tiền kết thúc, toàn bộ học sinh khối C chúng tôi lại bị “lùa” đi công tác “giữ nhà” cho nhà nước, họ gọi công tác này bằng cái tên rất hoa mỹ là “thanh lý nhà cửa”. Lần đó, chúng tôi đi chung với những công nhân “Cục Đường Biển” Trở lại khu Chợ Lớn quen thuộc, chúng tôi được chia ra nhiều nhóm nhỏ rồi thì cứ ba người lại vào một nhà, nhiệm vụ của chúng tôi là phải kiểm kê những tài sản chủ nhà bỏ lại, thí dụ như: T..V, tủ lạnh, nồi cơm điện, quạt…và còn phải trông coi căn nhà đó cho đến khi nhà nước có lệnh dùng căn nhà ấy vào việc gì thì chúng tôi được ra về. Công tác này có vẻ nhàn hạ đến nhàm chán và lại kéo dài hơn công tác “đánh tư sản”. Theo qui định của công tác “thanh lý”chúng tôi không đuợc phép mang ra khỏi nhà bất cứ thứ gì. Trong căn nhà tôi đã bị vào “thanh lý”, tôi tìm thấy rất nhiều sách chữ Tàu.; tôi nghĩ bụng nếu tôi gửi được cho cha tôi những sách này chắc là cha phải thích lắm. Cha tôi đang tự học thêm chữ Tàu trong tù để giết thời giờ, và lần nào có dịp thăm nuôi, cha cũng bảo mẹ tôi mua báo Tàu cho cha đọc. Nhắc đến đây, tôi chợt nhớ một anh Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị, người đã từng ở tù chung với cha kể rằng; anh đã học được ở cha tôi chữ “quân tử” từ hai câu: “Bần tiện bất năng di” nghĩa là dù nghèo mà không đổi chí, và “uy vũ bất năng khuất”, gặp cường quyền cũng không khuất phục. Theo anh, điều đã làm anh rất mến phục cha tôi là chỗ, dù sống trong cảnh khổ nào cha vẫn không đánh mất tư cách, và phẩm chất của người quân tử.

Công tác “thanh lý” đã chiếm gần hết cả mùa hè, sau khi chúng tôi trở về trường lại, nhà trường đã gấp rút tổng kết điểm, và hoàn tất thủ tục ra trường để kịp gửi toàn thể giáo sinh khối C về các quận, huyện nhận nhiệm sở trước ngày nhập học. Tôi đã thực sự bước vào nghề dạy trẻ từ năm học 1978-1979 Năm đó, sở giáo dục ra chỉ thị mở rộng ngành nhà trẻ mẫu giáo xuống từng phường xã. Mỗi phường phải có một trường mẫu giáo và một nhà trẻ riêng biệt, và để bảo đảm cung cấp đầy đủ số lượng giáo viên mẫu giáo cho từng phường xã, chúng tôi được thông báo là giáo sinh ở phường nào thì về phường đó dạy. Tôi nhận nhiệm sở về phường 4, quận 3 nơi tôi cư ngụ. Ngày tôi tìm đến trường để trình diện, một cảm giác lo âu lẫn thất vọng dậy lên trong lòng tôi khi gặp bà hiệu trưởng (một người phụ nữ sinh hoạt phờng khóm chưa hề qua một lớp sư phạm nào), bà đón tôi với cái nhìn từ đầu đến chân không mấy thiện cảm cho lắm. Có lẽ bà “kỳ thị” tôi vì cái vóc dáng nhỏ bé gầy gò, với bộ quần áo nghèo nàn. Sau này tôi mới biết rằng bà không thích nhận giáo sinh khối C, vì bà nghi ngờ khả năng chuyên môn của hệ đào tào cấp tốc. Bà đâu có biết trong khối C là khối tập trung những nhân tài, những tinh hoa tri thức của trường Đại Học Văn Khoa ngày trước. Còn về trường lớp, đó không hẳn là một ngôi trường mà chỉ là một căn phòng dài được mượn từ cơ quan phường đội ở trên lầu. Căn phòng ấy được ngăn làm hai lớp, tôi là một trong hai giáo viên sẽ dạy lớp bên trong, và một người bạn khác học chung khối C với tôi sẽ phụ trách lớp bên ngoài.

Những ngày đầu đi làm của tôi cũng thật là chua chát, đắng cay. Tôi luôn chịu sự đối xử bất công của bà hiệu trưởng so với T. bạn dạy chung, mặc dù tôi rất chăm chỉ, đi làm đúng giờ, soạn giáo án đúng ngày. Nhưng hình như bà không bao giờ hài lòng với mọi sự cố gắng của tôi. Có nhiều hôm, vì cơn đói vật vã, khiến tôi mệt mỏi và không có sức để đi tới đi lui nhiều. Giờ vui chơi, tôi chỉ ngồi một chỗ bất động nhìn học trò chạy nhảy như chong chóng. Bà đã bực dọc la lối tôi như một đứa trẻ: “Em làm cô giáo gì mà thụ động quá vậy hả, chẳng biết dạy học trò cho ra nề nếp gì hết, đâu phải đi vô dạy là cứ ngồi đó hoài để lãnh tiền đâu?” Bà không biết mà chắc cũng chẳng cần biết là gia đình tôi đã không có cơm ăn gần cả tuần rồi, chỉ toàn ăn cháo độn rau muống. Hai hôm trước cháo cũng không có mà ăn, phải ăn rau muống luộc không. Tôi đang thấp thỏm chờ tháng lương đầu và chút nhu yếu phẩm đem về cho mẹ đổi lấy gạo nấu cơm. ..

Một buổi sáng, tôi đến trường trong cái mệt và đói lả người, tôi cố lết vào lớp tìm một cái ghế ngồi phịch xuống. Hôm đó, T không đến trường, cũng không thấy bóng dáng bà hiệu trưởng đâu, bà thường viện cớ cho sự vắng mặt của bà là phải đi xuống phường thường xuyên đốc thúc họ cấp nhà cho trường mẫu giáo, chứ trường ốc như hiện giờ ai mà thèm cho con đi học. Tôi nhìn những đứa bé học trò trong lớp toàn là con nhà nghèo, đứa nào mặt mũi cũng lem luốc, mũi dãi chảy lòng thòng.Có đứa mang chân không đi học, tôi chợt xót xa nghĩ đến hình ảnh của các em tôi có khác gì những đứa bé nhà nghèo này đâu.Tôi mong cơn đói sẽ qua đi, để tôi đứng dậy phát tập cho học trò tô màu. Cái đói đã làm tê liệt cả não bộ của tôi, cả tứ chi tôi không buồn nhúc nhích. Nếu bà hiệu trưởng có mặt ở đây thì chắc chắn tôi sẽ bị trách móc về chuyện đi vô dạy mà cứ ngồi hoài…Bất chợt, em trai kế của tôi từ nông trường lao động ghé qua trường thăm tôi. Thấy bóng em, tôi vịn thành ghế đứng lên, chầm chậm bước ra cửa, nhìn em tôi đen đủi và già đi rất nhanh so với tuồi muời tám của em, tôi cười trong nước mắt. Không đợi tôi hỏi, em tôi nói ngay một hơi:

“Em mượn xe đạp của thằng bạn chạy về đưa nhu yếu phẩm cho bà, không thấy Mai ở nhà, mấy đứa nó nói Mai đi dạy ở đây. Em ghé qua thăm Mai một chút rồi phải đi liền, Mai xanh quá à”

Tôi cảm động không nói đuợc, nước mắt cứ rơi. Tiếng em tôi hỏi:

“Sao Mai khóc vậy? Bộ dạy ở đây cực lắm hả?”

Tôi lắc đầu, ngập ngừng nói:

“Chị… chị .. đói quá, nhà mình mấy hôm nay ..khổ lắm. Mẹ chạy không nổi hai bữa cơm cho cả nhà, mà chị thì …chẳng phụ gì được cho mẹ…đi làm cứ mong luơng hoài mà chưa có..” Tôi sụt sịt gạt nước mắt, em tôi ngắt lời:

“Em biết cái khổ của nhà mình, bởi vậy em không dám ở nhà lâu. Không biết chừng nào bố mới về cho tụi mình đỡ khổ…”. Em tôi chợt ngừng nói và móc túi áo lấy ra một gói nhỏ đưa cho tôi:

“Em cho Mai nửa cục đường tán nè, Mai ăn đi đỡ đói lắm đó. Ở chỗ em mỗi lần đi lao động mệt đứa nào cũng phải thủ cục đường để ngậm cho khoẻ”

Mắt tôi sáng lên: “Vậy hả? Sao Thái không để dành mà ngậm cho chị làm gì?”

“Mai đang đói ngậm liền đi cho khoẻ, em đã ăn nửa cục rồi mới có sức đạp mười lăm cây số về đơn vị bây giờ chứ”

Tôi cầm nửa cục đường thẻ nhìn em nghẹn ngào… Em tôi nói:

“Thôi, em phải đi đây, Mai ngậm liền đi cho khoẻ để có sức la hét tụi nhỏ”

Nói rồi em đạp xe đi nhanh. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo em, vừa run rẩy bỏ cục đường vào miệng. Vị ngọt của đường, và vị mặn của nước mắt pha lẫn vào nhau trong cổ họng tôi như tắc nghẽn lại…

Đúng như lời em trai tôi nói, chỉ vài phút sau tôi bỗng thấy mình khoẻ hơn một chút. Tứ chi tôi đã muốn hoạt động trở lại để tôi có thể chơi đùa với những đứa bé ngây thơ trong lớp. Sau giờ học, bà hiệu trưởng tạt qua trường đem cho tôi một tin thật khủng khiếp: phòng giáo dục không có tiền trả luơng cho giáo viên trong 3 tháng, chúng ta sẽ được “truy lãnh” 3 tháng luơng vào tháng 12. Tai tôi như ù đi, tôi tưởng như con ma đói đang cào bụng tôi đến chảy máu. Trời ơi, ba tháng không lương! Tôi sẽ phải làm sao để giúp gia đình tôi trong cơn túng quẫn này?? Ba tháng không lương, tan nát hết bao nhiêu hy vọng của tôi rồi. Tôi không biết tôi còn được bao nhiêu sức lực để vượt qua những cơn đói dài trong những ngày tháng tới? Ba tháng không lương, có ai tin được đó là sự thật dưới chế độ cộng sản? Đảng và nhà nước đã làm được gì cho nhân dân sau khi hòa bình, ngoài sự phát triển cái ghèo, đói và bệnh hoạn, ngoài việc hô hào dân chúng là đất nước hãy còn khó khăn, mọi người dân chúng ta phải biết khắc phục, còn phải khắc phục đến bao giờ? Thật là một nền hoà bình trong ai oán và uất hận. Trên đường về nhà tôi cứ lẩm bẩm mãi câu: “ba tháng không lương” như một người khùng, rồi tôi bật khóc tức tưởi…

Bây giờ ngồi đây tôi vẫn còn khóc, khóc mãi trong suốt cuộc hành trình ngược dòng thời gian về một quãng đời đen tối của sự nghèo đói sau chiến tranh. Còn biết bao nhiêu điều tang thương đã xảy ra trong gia đình tôi. Những năm tháng vắng mặt cha, có những khúc quanh trong cuộc đời gợi cho tôi nhiều xúc cảm quá đớn đau, quá xót xa, đến độ tôi không tài nào nhấc bút lên viết hết được, và phải dừng lại nỗi nhớ của mình …

Ngày cha trở về

Tháng 9 năm 1981, cha tôi bất ngờ trở về, tôi không sao diễn tả hết được sự vui mừng của chị em tôi lúc ấy. Chúng tôi quấn quít bên cha suốt một ngày, các em tôi cứ thay phiên nhau hỏi cha đủ mọi chuyện. Ngày cha về cũng là ngày căn bệnh ung thư của mẹ tôi đã sang thời kỳ cuối. Mẹ tôi thường mệt mỏi và có lúc mẹ gần như bị kiệt sức, thời gian đó tôi đã đi dạy kèm trẻ thêm được nhiều chỗ, nhưng tiền lương và tiền dạy thêm của tôi chỉ vừa phụ chút ít tiền ăn trong gia đình, không đủ đề chi phí tiền thuốc cho mẹ. Cha tôi đã bắt đầu đi tìm việc ngay, cha liên lạc với vài người bạn quen ở “Hội Trí Thức Yêu Nước” để xin một chỗ dạy tiếng Anh cho “Trung Tâm Dịch Thuật”. Trong khi chờ đợi việc làm này, cha tôi đã lặn lội lên tận Thủ Đức, vào một trường trung học để nộp đơn xin dạy toán, khi cha về nhà, tôi nghe cha kể với mẹ rằng:

“Tay hiệu trưởng có vẻ cũng là lính. Lúc hắn đọc xong lý lịch của tôi hắn hỏi: Trước kia anh là trung tá à.? Tôi nói vâng. Hắn nói ngay nếu trước kia gặp tôi thì anh đã bắn tôi đấy hử. Tôi nói, dĩ nhiên nếu tôi không bắn anh thì anh cũng bắn tôi. Chắc chắn là việc làm này tiêu rồi. Mai tôi lại đi tìm việc chỗ khác vậy”

Cha tôi cứ đi xin nhiều chỗ, và rồi cứ chờ, cho đến một ngày, không thể chờ lâu hơn nữa cha tôi tự đăng báo dạy kèm toán tại nhà. Sau ngày báo phát hành, cha tôi nhận được hai chỗ dạy kèm tư gia. Ngày nào cha cũng đi bộ rất xa để đến chỗ dạy, cứ như thế ròng rã gần một năm trời cha mới mua được chiếc xe đạp. Xuân năm 1982, gia đình tôi ăn một cái tết nghèo nhưng rất ấm cúng với không khí đoàn tụ. Ra tết đựợc vài ngày, bà ngoại tôi bị ốm, sức bà già yếu lại thiếu ăn, thiếu thuốc men chạy chữa nên chẳng bao lâu bà tôi qua đời. Do quá nhiều lo toan cho việc mai táng bà ngoại và sự thương nhớ bà nên bệnh tình của mẹ tôi nặng thêm lên, tế bào ung thư từ ngực trái của mẹ đã lan sang phổi làm cho mẹ tôi rất khó thở mỗi khi mẹ nằm xuống Rồi trên toàn thân bên trái các tế bào máu cũng từ từ vỡ ra, nổi lên những đốm đỏ li ti dày đặc. Mẹ tôi đã ra đi sau một tiếng nấc nghẹn ngào trong giấc ngủ, mẹ đi thật lăng lẽ, bình yên chẳng có lời từ biệt hay trối trăn gì với cha và chị em tôi. Đêm tang lễ, cha cứ đi chung quanh quan tài của mẹ, hai nắm tay đấm đấm vào nhau, cha buồn bã, thở dài và gục đầu lên quan tài rất lâu, có lẽ cha tôi khóc. Chỉ trong một năm thôi cha đã phải lo hai cái tang, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau này không?

Sau ngày mẹ tôi mất, cha tôi thay đổi tính tình một cách kỳ lạ. Cha trở nên gắt gỏng hay la mắng chúng tôi, và đứa con cha thường la mắng nhiều nhất đó là tôi. Nhiều lúc tôi đã bị mắng oan vô cớ cũng không hiểu tại sao, tôi chỉ đoán rằng chắc cha tôi có nỗi khổ tâm của một người vừa làm cha, vừa làm mẹ trong một gia đình đông con. Và cũng có thể tôi là đứa con vụng về đã chẳng giúp được cha tôi những việc như ý cha muốn. Chúng tôi đã thật sự trưởng thành từ ngày thiếu vắng mẹ, mọi chuyện trong nhà cha đều để chị em tôi lo liệu. Cuộc sống gia đình tôi bấy giờ đã tạm ổn vì những đứa em kế tôi lớn dần, chúng tôi đã đi làm phụ thêm với cha lo cho các em nhỏ. Riêng cha tôi thì dạy tư rất nhiều giờ, cha dạy lớp sáng, lớp chiều, lớp tối kể cả ngày chủ nhật. Bận rộn là thế, nhưng tối nào cha tôi cũng dành thời giờ để đọc sách tới khuya. Có khi tôi thấy cha cũng hay ngồi viết (sau này tôi mới biết là cha tôi viết hồi ký). Rồi một ngày cha tôi bị bệnh… Sau một đêm ngủ dậy, cha không cử động được chân tay và không ngồi dậy nổi, chị em tôi rất kinh ngạc và lo lắng, một cảm giác sợ hãi bao quanh lấy chúng tôi, không thể ngờ được … cha tôi đã bị liệt!!! Chị em tôi đã hết sức chạy chữa cho cha bằng mọi cách: châm cứu, uống thuốc, tập vật lý trị liệu, chạy điện. Sau một thời gian dài chữa trị cùng sự tập luyện, cha tôi đã ngồi dậy được và chập chững những bước đi rất yếu. Dù còn rất muốn làm việc, cha tôi vẫn không thể làm được gì nữa, phải từ giã công việc dạy học, cha rất tiếc nuối. Mỗi ngày cha chỉ nằm đọc sách và xem T.V., hoặc cha chống gậy đi loanh quanh trong xóm. Có những tối khu phố tôi ở bị cúp điện, chúng tôi lại ngồi quanh bên cha để nghe cha kể chuyện. Cha không còn kể chuyện võ hiệp như ngày chị em tôi còn bé; mà cha kể về những bi kịch và mâu thuẫn trong cuộc đời. Cha tôi kể rất nhiều tôi không làm sao nhớ hết nổi.

Tháng 9/1995 gia đình tôi giã từ Việt Nam để đi Mỹ theo diện H.O, vì là diện “trọc đầu” (không có người thân bảo lãnh) nên một hội từ thiện của nhà thờ đã bảo trợ gia đình tôi đến tiểu bang Utah. Khi bắt đầu hội nhập vào xã hội mới, chúng tôi rất ngỡ ngàng với mọi thứ tiện nghi xa lạ. Đời sống bận rộn với việc học và việc làm đã khiến chúng tôi không có thì giờ để gần gũi cha. Điều này đã làm cho cha tôi cảm thấy cô đơn, nên cha đã bớt nóng nảy và trầm lặng hơn. Bấy giờ cha tôi vẫn quanh quẩn trong nhà, vẫn làm bạn với sách, vẫn xem T.V. mỗi ngày. Cha tôi thường nói: “Bố có đến 10 đứa con, vậy mà lúc nào bố cũng ăn cơm một mình”. Nghe cha nói thế, chúng tôi đã cố gắng dành chút thời giờ vào ngày cuối tuần để ăn cơm chung và nói chuyện phiếm với cha. Một lần trong bữa cơm gia đình cha tôi nói:

“Dạo này sao bố cứ nằm mơ thấy Việt Cộng đến bắt đi hoài, đã sang đến Mỹ rồi mà cũng chưa thoát được chúng nó trong tư tưởng”

Em trai tôi nói: “Chắc bố suy nghĩ chuyện cũ nhiều quá nên nó ám ảnh vô giấc mơ của bố thôi” Cha tôi không trả lời, mắt cha buồn buồn nhìn về phía khung cửa sổ, tôi biết có lẽ cha tôi đã không thể quên được chuyện tù đày một cách dễ dàng, nhất là khi ngồi một mình suy tư…Mỗi tối đi làm về, tôi thường ghé qua phòng cha để xem cha còn thức hay đã ngủ. Thấy cha đọc sách hay nằm coi T.V. là tôi yên tâm được môt chút, tôi thường chép miệng thầm: “Phải chi mẹ còn sống đến giờ này với bố”

Những ngày cuối cùng của cha tôi đã trải qua trong bệnh viện, cha hôn mê suốt hai tháng trời, chúng tôi cứ tưởng rằng cha sẽ bỏ chị em tôi ra đi ngày nào đó. Nhưng rồi, sự màu nhiệm vô hình đã đến, một ngày cha tôi đã mở được mắt ra, nhìn chằm chặp lên trần nhà, cái nhìn thật vô định, tuy mắt cha đã mở, tay cha vẫn chưa cử động được,và cổ của cha vẫn cứng đờ. Theo lời bác sĩ, cha tôi bị hôn mê đã quá lâu nên trí nhớ sẽ giảm sút rất nhiều. Để phục hồi trí nhớ cho cha, người bác sĩ khuyên chúng tôi nên để cha tôi nghe những bài hát hoặc những câu chuyện cha tôi thường yêu thích trước kia; mỗi ngày một chút, cha tôi sẽ từ từ nhớ lại. Chúng tôi đã luân phiên nhau cứ một ngày thì em trai tôi đem băng nhạc Thái Thanh (cha tôi rất thích giọng hát Thái Thanh) và cái headphone gắn vào tai cho cha nghe, ngày hôm sau thì em gái tôi lại mang cuốn hồi ký của cha tôi vào đọc. Một đêm nọ, tới phiên tôi vào với cha thay cho đứa em gái thứ năm đi về. Nó dặn dò tôi là phải nhớ đọc hết phần còn lại trong hồi ký cho cha tôi nghe. Cha tôi vẫn nhìn bất động lên trần nhà, tôi cúi xuống bên tai cha thầm nói:

“Bố ơi, con là Mai nè, để con đọc chuyện cho bố nghe nhe”

Tôi hy vọng cha tôi sẽ nghe được tiếng của tôi. Đọc hồi ký của cha, tôi thấy cuộc đời cha tôi thật quá lận đận trên đường công danh, sự nghiệp. Tính cha khẳng khái, không chịu phục tùng cấp trên những lệnh mà cha cho là không đúng, không rõ ràng, vì thế công việc của cha cứ bị thuyên chuyển luôn. Khi tôi đọc đến đoạn cha viết về những năm tháng cha làm việc ở trường Quốc Gia Nghĩa Tử và sự chuyển đổi của cha lên Đà Lạt, tôi chợt nhìn thấy những giọt nước mắt từ từ lăn trên đôi má cha. Tôi ngừng đọc mừng rỡ gọi:

“Bố ơi, bố nghe con đọc rồi hả bố, chuyện cũ làm bố buồn phải không bố?” .

Tôi lấy giấy chậm nước mắt cho cha, rồi vội vàng gọi phone về nhà báo ngay cho các em tôi biết là cha tôi đã nghe được rồi, cha đã có cảm xúc. Tôi quay lại bên giường nắm lấy bàn tay khô cứng của cha xoa nhè nhẹ, tôi lẩm bẩm: “Sao bố cứ im lặng hoài vậy? bố nói gì với con đi” tôi sờ lên mặt cha, trên khuôn mặt đã hằn lên bao nỗi gian truân vì cuộc sống, vì con cái. Nếp nhăn năm tháng và đôi mắt mệt mỏi, chắc cha đang nghĩ về quá khứ của một đời tận tụy với nghề giáo, một cống hiến thanh khiết cho binh nghiệp.

Ngày nối tiếp ngày, cha tôi đã tỉnh táo lại, nhưng bộ nhớ của cha đã không còn được như xưa. Cha tôi cứ hỏi mẹ tôi đâu? Tôi nói mẹ mất lâu rồi bố không nhớ sao? Cha băn khoăn hỏi lại: “Ủa mẹ mày mất hồi nào mà tao không biết vậy kìa?” có khi cha lại giục tôi đi dọn cơm ăn cha đói lắm rồi. Một ngày khác cha lại kể như mơ “ Bố vừa tham dự một trận đánh ác liệt ở Biên Hoà, những thằng lính Việt Cộng toàn là trẻ con không, đứa nào đứa nấy người nhỏ xíu à. Thật tụi nó tàn ác quá bắt cả con nít đi vào chỗ chết.” Một buổi sáng, tôi vào thăm cha, cha nhìn tôi và bảo tôi phải gọi sang Cali gấp nhắn chú tôi đi đăng cáo phó cho cha. Tôi ứa nước mắt lắc đầu nói lãng qua chuyện khác rằng “Bố sắp khoẻ nhiều rồi, tụi con sẽ xin bác sĩ đưa bố về nhà”. Cha tôi gật đầu “Ừ, nằm đây hoài chắc bố chết quá, à mày cũng phải gọi chú mày đi đăng cáo phó nhé!” chắc cha tôi đã biết trước là cha sẽ không còn được bao nhiêu ngày nữa bên các con.

Rồi ngày đau thương đó đã đến, cha tôi ra đi vào một buổi sáng trong sự bất ngờ. Cũng như mẹ, cha chẳng kịp có lời nào gửi lại cho chị em tôi, cha lặng lẽ mang theo cả một khung trời mơ ước về sự thành đạt của các con. Khung trời ấy vẫn mãi mãi trong đôi mắt cha, trong tia nhìn tràn trề sự tin yêu hy vọng. Cha cũng mang theo hình ảnh của một quê hương Việt Nam với bao nhiêu biến đổi thăng trầm theo lịch sử; nào chiến tranh, nghèo đói, nào cường quyền, áp bức, nào tù đày, khổ ải. Tôi đã lội ngược dòng thời gian một mình để nhớ về cha, về mẹ, về những năm tháng khốn khổ mà cả hai bậc sinh thành ra tôi đã phải gánh chịu sau cái ngày hòa bình đen tối tháng 4 năm 1975, chỉ vì mong ước một đời sống tốt đẹp hơn cho thế hệ con cháu mai sau. Mong ước đó không chỉ riêng của cha mẹ tôi mà còn là của hàng triệu bậc cha mẹ trên khắp mọi nơi, mọi miền đất nước. Trong đó, có những người cha, những người mẹ, cách đây mấy mươi năm đã can đảm ôm con rời khỏi quê nhà, quyết sống chết với biển cả để đưa con đến vùng trời tự do, tìm một tương lai tươi sáng. Trong đó, có những bà mẹ đã không quản ngại gian khổ, lặn lội đường xa thăm nuôi chồng từng tháng, dù vất vả biết bao nhiêu vẫn cố dạy con cho nên người. Trong đó, cũng có biết bao nỗi đớn đau của những bà mẹ, ông cha đã bị mất con trong chiến tranh…Tôi đã lội ngược dòng thời gian để còn nhớ lại ngày đầu tiên tôi bước vào thế giới tuổi thơ trong ngôi trường nhỏ bé, có tiếng cười đùa của trẻ vang vọng trên sân chơi. Dù biết mình đang đi ngược dòng đời, đầu óc tôi sao hãy còn mê man một ngày về trên quê hương sẽ được thay đổi rất nhiều.,và giáo dục mầm non sẽ là một trong những phát triển đầu tư tự do …tự do sáng tạo.

Tôi nhìn lên tấm ảnh của cha, chắc cha đã gặp được mẹ tôi ở một cõi trời yên vui nào đó, và tôi tin rằng ngoài những ước mơ tốt đẹp cho các con, cha mẹ tôi cũng đã có nhiều mơ ước như tôi cho một ngày mới trên quê hương Việt Nam tự do và giàu mạnh.

Thiên Lý (3/2010)

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s