BANG BỐN NGƯỜI (Thái Việt)

“Bang bốn người” mọi người thường gọi gồm có: “Vương, Trương, Giang, Diêu”, người thủ lãnh là Giang Thanh. Trong bang này: ngọn cờ là Giang Thanh, Trương Xuân Kiều là quân sư lại là chỉ điểm, cây gậy đánh là Diệu Văn Nguyên, cái mác là Phó chủ tịch là Vương Hồng Văn. Cốt lõi của bang này là Trương Xuân Kiều. Khởi đầu mọi người gọi là “Bang Thượng Hải”, thực ra không có ai là người Thượng Hải chính cống. Vương hồng Văn là người Đông Bắc, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều là người Sơn Đông, Diệu Văn Nguyên là người Triết Giang, chỉ có Nguyên là nói được tiếng Thượng Hải.

GIANG THANH

Một bé gái 6 tuổi, xuất thân từ tầng lớp bình dân, đã được thừa hưởng của phong trào “Ngũ tứ” vận động cho sự bình đẳng giữa trai và gái. Cô sinh năm 1913 tên là Tố Minh (Shumeng) có nghĩa là “trong sáng và giản dị”. Cô lúc nhỏ đã hay chống đối, bạn bè cùng lứa rất ngạc nhiên thấy cô bé bỏ băng vải bó chân và thề không bao giờ bó lại nữa. Đầu tóc kết đuôi sam lại hay mặc quần áo cũ của các anh, nên Tố Minh nổi tiếng là “cô gái bị bà mụ nắn sai”. Thỉnh thoảng cô lại nổi cơn khùng cũng có lý do của nó: ông bố Lý Đức Văn 60 tuổi gấp đôi tuổi mẹ cô, xử sự như một bạo chúa. Khi uống rượu say, lên cơn điên, ông ta đánh vợ rất tàn nhẫn. Không chịu nổi mẹ Tố Minh đành phải ra đi, tay dắt con, tay khăn gói. May có địa chủ họ Vương cho hai mẹ con ở nhờ, mẹ con cô trở thành kẻ ăn người ở làm việc vặt trong nhà, kể cả ăn nằm với lão Vương, khi lão muốn. Lão vương có một người bạn là một nhà nho rủ lòng thương hại cô bé, nên đỡ đầu cho cô học trường tiểu học của thị trấn. Theo tập tục lúc bấy giờ, người ta đặt cho cô một cái tên mới: VÂN HẠC.

Vân Hạc khi theo học là một cô bé cứng đầu, cứng cổ, lại sinh ra trong một gia đình tầm thường, nên bạn bè xa lánh. Thầy giáo và các cha mẹ học sinh không ưa, cô vì mặc cảm lại hay cục cằn, hay gây gổ, do đó bị đuổi học. “Họa vô đơn chí”, Vân Hạc lại kỉa nhau với cô con gái của Lão Vương, lão đuổi cả hai mẹ con. Sau đó mẹ con đưa nhau về Tế Nam, Văn Hạc theo học trường tiểu học số I, khi lớn lên chuyển sang nghành sân khấu, một trong những hoạt động của Thủ phủ tỉnh Sơn Đông.

Năm 18 tuổi Vân Hạc đến Thượng Hải gặp lại thầy cũ của mình là Khang Sinh. Khang ngạc nhiên ngắm nghía những thay đổi đã đến với nàng trong những năm qua: Vân Hạc từ một cô bé bướng bỉnh ngày nào, nay đã là một thiếu nữ vô cùng hấp dẫn, tự tin ở cái duyên, cái đẹp của mình và ham mê sân khấu. Qua trung gian của Khang Sinh, Vân Hạc làm quen với Dư Tiên một thiếu phụ rất lịch sự chuyên về Kinh kịch cổ điển Trung Quốc. Dư Tiên nhờ chồng mình giới thiệu nữ đồng hương của thày Khang vào trường Đại học Thanh Hoa. Nhưng Vân Hạc là một thiếu nữ rất đẹp và quyến rũ, Dư Tiên bắt đầu lo sợ đến lượt chồng mình bị đổ theo cái duyên dáng hấp dẫn của Vân Hạc, nên bà giới thiêu cho em trai bà là Dư Kỷ Vệ một đảng viên cộng sản dồng chí của Khang Sinh.

Kỷ Vệ đã dẫn lối cho nàng học lý luận Mác-xít và hoạt động hăng say trong nghề diễn viên, lúc này lấy tên là Lam Bình.

Rất nhiều báo chí thập niên 30 đã bộc lộ không sót mảy may diện mạo bản sắc của cô đào này: “Lam Bình yêu đương linh tinh ở Điện Thông”, “cắt nối, cắt nối… vì yêu Lam Bình, nhà bình luận diện ảnh Đường Nạp hai lần tự sát được cứu sống, nguyên nhân Đường Nạp- Lam Bình cãi cọ nhau; Lam Bình- Chương Dân du hành trăng mật”.

Tháng 12-1937, Khang Sinh rất nỗi ngạc nhiên khi nhe tin một cô gái trẻ là nghệ sĩ từ Thượng Hải đến. Khang Sinh thu xếp công việc để đi gặp cô gái này. Người trùm mật vụ không có gì khó khăn nhận ra ngay ngôi sao nhỏ đó, đã bỏ chiếc áo xường xám xẻ đến tận đùi, để mặc quân phục Hồng Quân. Tóc cắt ngắn để viền tua trên trán, cô không thay đổi gì nhiều. Chính Vân Hạc “con hạc của ngàn mây”, cô học trò cũ nhỏ nhắn bướng bỉnh ở Chư Thành, hay Lam Bình “quả táo xanh”, người tình cũ ở Thượng Hải. Hai người Sơn Đông gặp lại nhau tại chiến khu rất xúc động. Bằng cái giọng Chư Thành quê hương, họ nhắc lại kỷ niệm xưa: nàng nói tại sao lại bỏ thành phố hoa lệ vào Diên An, nàng tránh các cuộc oanh tạc của không quân Nhật nên di tản lên Tây An. Tại đây gập một nghệ sĩ sân khấu khác Lý Lệ Liên đang định về Diên An để gập người yêu và tổ chức đám cưới. Nàng quyết định cùng đi với Lý đến Diên An để trực tiếp cống hiến cho “cách mạng” nhiều hơn. Lam Bình nhờ người tình cũ đỡ đầu nên cũng được theo học trường Lỗ Tấn như Lý để trau nhồi thêm nghệ thuật.

Năm 1938 Lam Bình nhận được một tin vui do một người thân cận của Mao cho biết: “Đồng chí Mao sẽ tham dự một hội nghị tại trường Lỗ Tấn. Tôi nói riêng cho cô biết, đừng vội nói với ai, đây là vấn đề bảo vệ… ” Lam Bình mừng lắm, nàng vẫn mơ ước gặp được lãnh tụ cách mạng mà lâu nay nàng vẫn tôn là thần tượng. Thêm nữa nàng cũng còn nghe Mao đã cho Hạ Tử Trân (người vợ đã theo Mao trong cuộc Vạn lý trường chinh) đi nghỉ ở Liên Xô, toàn thể Diên An rì rầm tin đó.

Đúng ngày N tại trường Lỗ Tấn, Lam Bình chen lấn để được ngồi hàng đầu, tay cầm cuốn sổ, uống từng lời của lãnh tụ như uống sữa tươi. Mao xuất hiện rực rỡ như vừng thái dương trong chiếc vareuse xám xanh vừa mới là ủi cận thận. Thỉnh thoảng không như các bạn bè khác đang ngây người như tượng gỗ, nàng dám đề ra những câu hỏi táo bạo với sự duyên dáng tươi rói đang ánh lên trong mắt của Mao. Mao tươi cười nói: “Nếu có điều gì chưa rõ, hãy đừng ngại tìm tôi tại văn phòng làm việc”

Câu chuyện lan ra cả trường, Lam Bình bước vào lớp trong sự yên lặng, làm xiêu lòng lãnh tụ cũng tức là gây thù hận. Lam Bình lại phải nhờ đến Khang Sinh, nàng điện thoại cho Khang, bên đầu dây Khang khen: “Đồng chí Lam Bình, tôi nghe nói đồng chí đạt được kết quả lớn ở trường Lỗ Tấn. Nhiều cán bộ chủ chốt đã nói với tôi về đồng chí! Chỉ cần có quyết tâm… tài năng của đồng chí rất lớn, đồng chí sẽ tiến xa… ”. Khang Sinh đã để lộ ra một hàm ý. “Cám ơn đồng chí Bộ Trưởng, với sự giúp đỡ của Bộ trưởng, nếu ngày nào đó tôi thành đạt, hãy tin rằng tôi không quên sự giúp đỡ đó”.

Để tiến xa, tốt hơn hết là đi từng bước ngắn. Để trở thành một người mai mối phải có một nghệ thuật. Khang Sinh thường thích câu: “Nếu muốn có vườn đào, hãy mở hiệu ở phố Hạnh Nhân”… Khang Sinh thành công, ít lâu sau “Lam Bình bước được vào hang ổ của Mao Trạch Đông”.

Tháng 8-1938, Mao bổ nhiệm Lam Bình làm nhân viên bảo mật của ủy ban quân sự, tức là bộ chỉ huy tối cao kháng Nhật mà Mao là chủ tịch. Phòng làm việc của nàng sát buồng Mao. Lam Bình trở thành người vợ không chính thức của Mao…

Sư phụ Khang Sinh đã khéo lèo lái, nhờ Khang mà hai người con trai của Mao và Dương Khai Tuệ (đã chết) công kích bà mẹ ghẻ Hà Tử Trân và ca ngợi người có thể thay thế!

Mao quyết định ly hôn với Hà Tử Trân và kết hôn với Lam Bình với điều kiện Lam Bình không bao giờ được dính líu vào chính trị.

Lam Bình đổi tên: từ nay phải gọi là GIANG THANH.

TRƯƠNG XUÂN KIỀU

Trương Xuân Kiều người huyện Cự Dã, tỉnh Sơn Đông, sinh năm 1917, con một gia đình đã chủ có hơn 85 mẫu ruộng phát canh thu tô, ngoài ra lại có nhà cho thuê. Nhưng trong tờ khai lý lịch lại khai cha là tiểu viên chức, có khi khai cha làm thầy thuốc.

Trương Xuân Kiều có khiếu về văn chương, những năm 16, 17 tuổi đã cầm bút. Sau khi tốt nghiệp trung học, chui vào hàng ngũ các nhà văn ở Tế Nam, tự xưng là nhà văn tiên tiến. Tháng 5-1935 đặt chân lên đất Thượng Hải, Trương Xuân Kiều được xếp vào hàng ngũ nhà văn thành phố này: trong 2 năm đã có 40 bài, có bài dài, có bài ngắn đăng trên các báo với rất nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu xem như đơn giản, nhưng lại cần có học vấn uyên thâm, mới phân biệt ai là: ẩn sĩ, chiến sĩ và kẻ ám muội…

– Ẩn sĩ: không cần danh tiếng, chỉ muốn để lại tác phẩm.

– Chiến sĩ: đánh vào kẻ thù, khiến cho kẻ thù không biết mình là ai để bảo vệ mình.

– Kẻ ám muội: làm việc mờ ám, bắn ra mũi tên vu vơ không có thực, là bản lĩnh của bọn chúng. Lúc đó bút danh là thuật dấu mình của bọn người không đàng hoàng quang minh chính đại.

Tháng 4-1936 Trương Xuân Kiều vào đảng cộng sản ở Thượng Hải, nhưng chi bộ này không được công nhận, nên coi là không hợp pháp.

Sau khi tờ Lập Báo ngày 3-9-1937 đăng bài “Vũ trang nhân dân” ký tên Trương Xuân Kiều, tên tuổi ông ta bỗng mất hút trên báo Thượng Hải. Trương Xuân Kiều đi đâu rồi? Chả nhẽ con người nhiều bút danh vào bực nhất này lại biến hóa thêm một bút danh mới!

Ở Thượng Hải đứng chân không được, Trương Xuân Kiều đi xe lửa lên phía Bắc, đầu tiên đến Tế Nam khi đó vào khoảng tháng 9-1937. Trung tuần tháng 12-1937, Trương rời Tế Nam, sau đó một tuần Tế Nam thất thủ. Trương Xuân Kiều đi Diên An, mới đặt chân vào vùng đất nóng bỏng của Diên An đỏ vài ngày, Trương đã đeo trên ngực một huy hiệu đỏ “Kỷ niệm 10 năm thành lập Hồng Quân Trung Quốc”, mà Trương đã mượn của một người bạn. Chiếc huy hiệu đó là lá bùa hộ thân cho Trương… .

Trương Xuân Kiều đi dự vụ xử án tên gián điệp Nhật Bản ngày 17-3-1938 ở Diên An, nên đến tháng 5-1938 trong tuần báo “Văn nghệ kháng chiến” đăng bài: “Hán gian Cát Tư Cung” ký tên Trương Xuân Kiều.

Tháng 8-1938 được Cố Huy và Phi Hùng giới thiệu Kiều vào đảng cộng sản.

Nhờ tài viết lách, lại được trời phú cho có khả năng hoạt động xã hội, Kiều có thể chạy đây đó, chui vào những nơi mình muốn. Kiều đã chui vào công tác tuyên truyền. Nhờ lối học thuộc mấy câu rất hay trong các chương của sách Mác-Lê, rồi sử dụng mấy câu sáo ngữ đó trong các bài báo, Kiều đã thành công. Kiều được bổ nhiệm làm Phó tổng biên tập “Tân Sát Ký nhật báo”, Chủ nhiệm tờ này là Đặng Thác. (Sau tờ này trở thành “Nhân Dân nhật báo” của cục Hoa Bắc. Mùa thu năm 1949 “Nhân Dân nhật báo” trở thành tờ báo của cơ quan Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đặng Thác lúc đó 37 tuổi làm Chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký).

Ngày 20-11-1947 Thạch Gia Trang rơi vào tay binh đoàn dã chiến của La Thụy Khanh, quân đội Quốc Dân đảng rút lui.

“Thạch Môn nhật báo” ra đời tại Thạch Gia trang, Trương Xuân Kiều được làm chủ nhiệm; Trương thoát khỏi dưới trướng Đặng Thác, nay gặp được Kha Khánh Thi. Kha Khánh Thi đã từng đảm nhiệm hàng loạt chức vụ quan trọng: Bí thư Tỉnh ủy An Huy, Chủ nhiệm cục chính trị quân đoàn 8 Hồng Quân, Bí thư trưởng Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản. Nay Thi giữ chức Thị trưởng thành phố Thạch Gia Trang, Thi phát hiện ra tài năng của Trương, giao cho Trương làm Bí thư trưởng của ủy ban thành phố kiêm chủ nhiệm “Thạch Gia Trang nhật báo”. Trương Xuân Kiều hiểu rất rõ Kha Khánh Thi chính là cái thang đưa mình lên. Thi quen biết nhiều nhân vật lãnh đạo ở Trung ương. Giai đoạn công tác này chính là cơ hội tốt cho Kiều sau này tiến thân.

Mùa Thu năm 1954, Kha Khánh Thi được bổ nhiệm làm Bí thư cục Thượng Hải. Về đến Thượng Hải nghe Trương Xuân Kiều sắp về Kinh làm Phó tổng biên tập “Nhân Dân nhật báo”. Kha Khánh Thi lập tức triệu Trương Xuân Kiều đến:

– “Nghe nói đồng chí sắp về Bắc Kinh làm Phó tổng biên tập “Nhân Dân nhật báo”.

– “Đúng tôi được triệu về Bắc kinh lám phó..”.

– “Đồng chí bằng lòng đi Bắc Kinh, vui lòng làm phó”. Thi hỏi liền mấy câu..

[Trương Xuân Kiều lúng túng, đầu óc mung lung. Kiều nghĩ đến chữ “Phó” kia lại nản lòng, Kiều đã làm Phó cục trưởng cục xuất bản Tân Văn, Hoa Đông dưới quyền Huy Dật Quần “ác như kẻ thù”, mãi mới có cơ hội lật lên làm Chủ nhiệm kiêm tổng biên tập tờ “Giải Phóng nhật báo” tại Thượng Hải, thiết lập quan hệ thường xuyên với lãnh đạo Trung ương].

Trước những câu hỏi của Kha Khánh Thi, Trương Xuân Kiều nói một câu nước đôi: “Tôi phục tùng sự phân công của tổ chức”

– “Tốt lắm, như vậy là tốt rồi, đồng chí hãy ở lại Thượng Hải”.

Kha Khánh Thi rất cần một người hiểu về con người và địa thế Thượng Hải, Trương Xuân Kiều là con người đó. Kiều những năm 30 đã sống ở Thượng Hải, hơn nữa thời gian làm chủ nhiệm “Giải Phóng nhật báo” lại quen biết nhiều cán bộ các ngành. Nên Thi vuốt ve Kiều: “Năm trước, đồng chí và tôi cùng làm việc vui vẻ với nhau ở Thạch Gia Trang. Hy vọng sau này ở Thượng Hải chúng ta tiếp tục hợp tác tốt đẹp như xưa”.

Ngày 11-7-1956, Đại hội đại biểu lần thứ nhất đảng Cộng sản Trung Quốc thành phố Thượng Hải khai mạc. Trương Xuân Kiều đã bỏ công nghiền ngẫm bài nói chuyện của Mao Trạch Đông bàn về “Quan hệ công nghiệp duyên hải và công nghiệp nội địa”, để viết bài báo cáo cho xếp của mình. Mao đang ở Hàng Châu nghe được bài diễn văn của Thi qua làn sóng, tỏ ra rất tán thành và Mao khen Thi “Thực hiện ở Thượng Hải, phương châm chính xác”. Tiếng tăm của Thi nổi lên như cồn. Tháng 9-1956 Kha Khánh Thi được bầu làm Ủy viên Trung ương thì Thi cũng nâng đỡ đàn em Trương Xuân Kiều làm ủy viên Thị ủy Thượng Hải.

Năm 1958 Kha một bước lên Ủy viên Bộ chính trị, Trương trở thành Ủy viên thường vụ Thị ủy Thượng Hải. Kha Khánh Thi lại đọc một bản báo cáo dài hàng vạn chữ (do Trương chấp bút) rất kêu có nhan đề: “Cưỡi gió đạp sóng, tăng nhanh tốc độ kiến thiết tân Thượng Hải XHCN” lại được Mao khen ngợi. Mao đâu có hay Trương Xuân Kiều mới chính là tác giả.

Trương Xuân Kiều phải qua Ủy viên bộ chính trị Kha Khánh Thi nên nắm được các ý kiến mới nhất của Mao Trạch Đông. Kiều dùng toàn bộ thời gian để tìm ra nơi sâu xa trong tư tưởng Mao Trạch Đông, Kiều đã tìm trúng. Trương Xuân Kiều đã viết một bài, người đương thời không ai nghĩ tới, bài có đề mục: “Diệt trừ tư tưởng pháp quyền của giai cấp tư sản”. Bài này đăng trong số 6 “Tập san Lý Luận” của Thị ủy Thượng Hải ngày 15-9-1958, đến tay Mao rất nhanh. Lần đầu tiên Mao chú ý đến tên tác giả: Trương Xuân Kiều. Mao đã phê: “Bài của đồng chí Trương Xuân Kiều cơ bản rất chính xác, nhưng có một số chỗ mang tính phiến diện… Nhưng đồng chí ấy sốt sắng nêu vấn đề này, thu hút được sự chú ý của mọi người. Văn chương giản dị, dễ hiểu, dễ đọc… Đề nghị đăng lại toàn văn trên Nhân Dân nhật báo”. Lời phê của Mao cùng bài báo được đăng trên vị trí đặc biệt nhất trên tờ “Nhân Dân nhật báo” ngày 13-10-1958. Tên tuổi Trương Xuân Kiều lần đầu tiên được sự chú ý của cả nước.

Sau tác phẩm thành danh này, Mao chú đến Trương Xuân Kiều nên đã phê: “Các tú tài của chúng ta: Bá Đạt, Xuân Kiều có thể đi điều tra một công xã vệ tinh ở Hà Nam”. Thế là Trương được xếp ngang hàng với Trần Bá Đạt lúc đó đã được mệnh danh là một nhà lý luận, là cây bút số một của đảng cộng sản Trung Quốc. Trương Xuân Kiều muốn cho danh chính ngôn thuận cũng cố tập họp 40 bài tạp văn: “Hãy để báo chữ to lưu danh muôn thuở”, “Phong cách đại nhảy vọt”, “Bài ca đông phương”, lẽ dĩ nhiên không quên bài “Diệt trừ tư tưởng pháp quyền… ” v.v làm thành một cuốn sách: “Long Hoa tập” dầy 182 trang do nhà xuất bản Văn Nghệ Thượng Hải in ấn.

Trương nhờ cái thang Kha Khánh Thi đã leo đến bực chót, nên ngày 10-4-1965 Kha Khánh Thi mất đối với Trương Xuân Kiều, buồn vui mỗi bên một nửa: buồn vì Kha là người hết lòng ủng hộ nâng đỡ Kiều, nay Thi mất Kiều mất đi một chỗ dựa. Nhưng cũng chính vì không còn Kha, nên Giang Thanh gây dựng cơ sở ở Thượng Hải sẽ phải trông cậy vào Trương Xuân Kiều. Vì sau khi Thi mất, Kiều đã là Bí thư phòng Bí Thư thị ủy Thượng Hải, trở thành nhân vật có thế lực ở Thượng Hải.

DIÊU VĂN NGUYÊN

Diêu Văn Nguyên sinh năm 1931 tại Thượng Hải. Năm 1948 Nguyên theo học bậc cao-trung tại trường trung học Lỗ Tấn ở Thượng Hải. một người bạn cùng lớp là Thôi Chấn giới thiệu Nguyên ra nhập đảng cộng sản Trung Quốc.

Sau năm 1949, Nguyên làm cán bộ tuyên truyền của đoàn ủy khu Lỗ Loan, Thượng Hải. Ngụ ở khu tập thể cơ quan số 2 đường Hương Sơn, cách nhà Trương Xuân Kiều bên số 9 có vài chục mét. Diêu Văn Nguyên biết có ông Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập “Giải phóng nhật báo” rất bề thế là hàng xóm của mình, Nguyên vẫn mộng mơ thành nhà văn, nên xin đến bái kiến.

Trương Xuân Kiều được biết Nguyên là con trai của Diêu Liên Tử. Trương đã sống lâu năm tại Thượng Hải, không lạ gì lý lịch của nhà văn Diêu Liên Tử. Liên Tử là người Triết Giang sinh năm 1906, năm 1924 đến Thượng Hải làm báo có quen với Phan Hán Niên là đảng viên cộng sản hoạt động bí mật. Năm 1930 Phan giới thiệu Tử vào đảng cộng sản. Diêu Liên Tử từng giữ các chức vụ: Ủy viên ban chấp hành kiêm Trưởng ban nội vụ của chi ủy Thượng Hải. Về sau trở thành liên lạc ở ban đặc biệt của Trung ương đảng, dưới sự lãnh đạo của Phan Hán Niên.

Tháng 12-1933, khi Diêu Liên Tử đang ở Thiên Tân làm nhanh viên giao thông của tỉnh Hà Bắc, thì bị Quốc Dân đảng bắt giải về Nam Kinh. Ở trong tù Liên Tử đã phản bội đảng cộng sản: trong số báo ngày 14-5-1934 “Trung Ương nhật báo” đã đăng bài “Tuyên ngôn Diêu Liên Tử thoát ly đảng cộng sản”. Sau này từ bỏ chính trị về mở hiệu sách. Năm 1955 Liên Tử có in sách của Hồ Phong, nên khi có cuộc vận động phản Hồ Phong lại bị coi là có nhiều liên hệ với Hồ Phong, nên bị bắt giải tới Bắc Kinh.

Còn Diêu Văn Nguyên vì viết cuốn “Luận về tư tưởng văn nghệ Hồ Phong”, tuy chưa cho xuất bản, nhưng cũng bị liên lụy. Trong lúc nguy cấp Trương Xuân Kiều đã giúp đỡ Nguyên. Thế là Kiều đã nắm được chỗ yếu của Nguyên để sai khiến. Hơn nữa Nguyên cũng tả đến mức thượng thừa có thể nối tiếp Kiều. Trương Xuân Kiều đã viết nhiều bài công kích “Phần tử phái hữu” đăng trên Giải Phóng nhật báo. Nguyên so với Kiều chẳng qua chỉ la “ quân tốt”, là “nhân vật quèn”; nên Kiều lợi dụng sự hiểu biết thành thực của Nguyên về Hồ Phong, để yêu cầu Nguyên viết một bài “phê phán tư tưởng Hồ Phong” đăng trên báo Giải Phóng. Từ ngày mồng 7-5-1955, trong vòng 10 ngày đã đăng liên tục 4 bài của Nguyên phê Hồ Phong, khiến Nguyên trở thành “Anh hùng phản Hồ Phong”. Đây có thể nói là lần hợp tác đầu tiên giữa Trương và Diêu.

Lần hợp tác thứ hai: Trương- Diêu là vào mùa hạ năm 1957, khi Kiều được Kha Khánh Thi cho biết những tin tức về phản kích hữu phái, lập tức mớn ý cho Nguyên viết bài “Lục Dĩ Bị Khảo” đăng trên “Văn Hối báo” ngày 10-6-1957.

Mao Trạch Đông vẫn luôn theo dõi “Phương hướng tư sản” của Văn hối báo, xem được bài “Lục dĩ bị khảo”, Mao tán thành ra lệnh cho Nhân Dân nhật báo đăng lại vào ngày 14-6-1957 ở ngay trang nhất. Do đó: bài “LỤC DĨ BỊ KHẢO” đã trở thành tác phẩm làm Diêu Văn Nguyên nổi danh và được chúa biết tên.

Ngày 1-7-1957 khi “Bán nguyệt san giải phóng”, tập san lý luận của Thị ủy Thượng Hải; Kiều đề nghị lên Kha Khánh Thi cho Nguyên làm chủ nhiệm. Diệu Văn Nguyên càng ra sức vung cây gậy múa may, công kích nhà văn Đinh Linh, đánh vào nhà văn Ba Kim (một thời làm chấn động hàng ngũ nhà văn Trung Quốc). Trương Xuân Kiều giúp cho Nguyên thoát khỏi sự vụ biên tập, chủ nhiệm “Gãi phóng nhật báo” để chuyên chú dành toàn bộ thời gian viết báo điểm danh phê phán.

Các bài báo của Diêu được coi là có bảo đảm từ phía Kha Khánh Thi và Trương Xuân Kiều. Hai người này có dụng ý: “Trên báo chí để Diêu Văn Nguyên xuất đầu lộ diện, tiện hơn chúng ta”.

SỰ KẾT HỢP VÀ NGÀY TÀN CỦA “BANG BỐN NGƯỜI”

Bàn về sự kết hợp của “bang bốn người”, Khang Sinh (trùm mật vụ Trung Cộng từ 1951-1977), người được Mao đã nhận xét: “Không ai biết rõ những gì đã và đang xảy ra ở Trung Quốc bằng Khang Sinh”. Ngay từ buổi đầu của đại CMVH, Khang Sinh đã nhìn ra: Trần Bá Đạt (thư ký riêng của Mao), nhà trí thức hói đầu, nhà lý luận Mác-xít, là một cái đầu nhưng cái ĐẦU không có thân. Giang Thanh tuổi đã cao nhưng còn đẹp gái, vẫn còn quyền uy vì dựa vào Mao, có thể làm THÂN nhưng chưa có chân tay. Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên là chủ tại lãnh địa Thượng Hải, chỉ là những CÁNH TAY không có thân. Nên họ cần có sự kết hợp. Giang Thanh cầu cứu ngay đến Khang Sinh, coi Khang Sinh là cố vấn chủ yếu. Giang Thanh nói: “Đồng chí Trần Bá Đạt và tôi không quyết định và cũng không làm việc gì mà không xin ý kiến của đồng chí Khang”. Được sự tin cậy Khang Sinh cố gắng hết mình để tạo thuận lợi cho Giang Thanh xuất hiện trước quần chúng. Nhờ sự quen biết của Khang Sinh với Kha Khánh Thi, Khang móc nối được với các phần tử cực đoan tại Thượng Hải mà đại diện là Trương Xuân Kiều và nhà “phê bình văn học” Diêu Văn Nguyên được nhà văn Ba Kim gọi là: “nhà phê bình chuyên môn xem phương hướng”. Hai thành viên Trương Diêu ngay từ buổi đầu đã hoàn toàn tán thành với Giang Thanh về đường lối văn nghệ.

Giang Thanh là một phụ nữ không cam chịu cuộc sống yên tĩnh phẳng lặng: lúc đầu Giang Thanh muốn tìm những người ở Bắc Kinh ủng hộ bà. Nhưng không làm được, bắc Kinh không phải là cơ sở của bà ta. Bành Chân là Thị trưởng thành phố Bắc Kinh, Ngô Hàm là Phó thị trưởng, Đặng Thác là Bí thư văn giáo thị ủy, Liêu Mạt Sa là Phó trưởng ban tuyên truyền thị ủy- cả ba người sau này bị gọi là “Thôn ba nhà phản cách mạng”. Đối với một trận doanh như vậy, Giang Thanh đương nhiên không có cách nào triển khai “phê phán” như ý của mình.

Giang Thanh đến Thượng Hải lập căn cứ, bài văn phê phán do bà tổ chức viết đã thánh công, được báo chí Thượng Hải đăng. Đây là lần đầu tiên Giang Thanh, Kha Khánh Thi, Diêu Văn Nguyên “hợp đồng tác chiến”… Về bài phê phán đầu tiên trong đại hội văn nghệ Thủ đô ngày 28-11-1966, Giang Thanh nói rất rõ về quá trình nhận thức của bà ta: “… Điều trước tiên tôi cảm nhận được là tại sao trên văn đàn của Trung Quốc XHCN vẫn có những vở kịch diễn xấu? Sau đó tôi cảm thấy rất kỳ quặc, những vở Kinh kịch (kịch hát dân tộc của Trung Quốc ra đời ở Bắc Kinh khoảng thế kỷ 18), phản ánh hiện thực xưa nay thường không bén nhậy. Nhưng tại sao lại xuất hiện những vở kịch có khuynh hướng chính trị phản động như: “Hải Thụy bãi quan”, “Lý Tuệ Nương”, v.v. còn những mỹ từ như “khai thác truyền thống”, đã đưa rất nhiều đế vương, lương tướng, tài tử giai nhân… Trong toàn bộ giới văn nghệ, bàn nhiều, diễn nhiều về nước ngoài, về cổ xưa, tràn ngập không khí “nặng nề cổ xưa, nhẹ cho hiện tại”, “sùng bái nước ngoài, bỏ qua Trung Quốc”, “nặng về người chết, nhẹ với người sống”.

“Tôi cảm thấy nền văn học nghệ thuật của chúng ta, đã không thích ứng vói cơ sở kinh tế XHCN, nó sẽ tất yếu dẫn đến phá hoại cơ sở kinh tế XHCN”. Bài đầu tiên phê bình “Hữu quỷ vô hại” đích thực có sức nặng là nhờ sự ủng hộ của Kha, Trương Diêu. Nhưng chính bài bình của Lương Bích Huy về “Hữu Quỉ vô hại luận” mới đích thực là khúc đàn dạo đầu khiến cho Giang Thanh giành được quyền phê bình ở Thượng Hải. Do đó mới có bài phê bình thứ hai về Hải Thụy bãi quan, như đoạn trước đã nói trên đây và là dây lửa dẫn đến cuộc cách mạng văn hóa.

Trong cuộc đại CMVH tại Thượng Hải bùng nổ sự kiện An Đình: đường dây dẫn đến sự kiện này là chiều ngày 9-11-1966, “Bộ tư lệnh tạo phản cách mạng công nhân Thượng Hải” tuyên bố thành lập, những công nhân này đeo huy hiệu lãnh tụ đỏ thắm, mặc trang phục công nhân may bằng vải thô, ào ào tràn về quảng trường văn hóa ở trung tâm thành phố Thượng Hải. Thị ủy Thượng Hải căn cứ vào tinh thần văn kiện của Trung ương về công nhân: “Kiên trì bám sản xuất, không bỏ xưởng đi ra ngoài”, “Không thành lập các tổ chức vượt quá ngành nghề”. Nên “Bộ tổng tư lệnh công nhân” đã tổ chức cuộc diễn hành qui mô trước tòa nhà Thị ủy Thượng Hải, Bí thư Thị ủy là Tào Hoạch Thu. Tào Hoạch Thu không ra tiếp kiến. Do đó Tư lệnh của “Bộ tổng tư lệnh công nhân” là VƯƠNG HỒNG VĂN quyết định dẫn công nhân xông vào ga Bắc Thượng Hải, hô lớn “Đi Bắc Kinh cáo trạng Thị Ủy Thượng Hải”.

Vương Hồng Văn dẫn đầu hơn một ngàn công nhân “phái tạo phản”, lên tàu số 602 đã định chạy về hướng Trịnh Châu. Vào lúc 7 giờ ra lệnh cưỡng bách phòng điều hành cho tàu chạy. Đến 8 giờ 17 phút đoàn tàu chạy đến ga AN ĐÌNH. Cục đường sắt ra lệnh giữ đoàn tàu lại. Do đó trên một ngàn công nhân tạo phản bị ùn lại ở An Đình.

Để gây áp lực với Thị ủy Thượng Hải, Vương Hồng Văn quyết định: các công nhân nằm trên đường ray để cản trở các đoàn tàu. 12 giờ trưa ngày 10-11-1966 khi đoàn tàu tốc hành số 14 từ Thượng Hải đi bắc Kinh, đến đoạn ga An Đình, trên đường ray ngổn ngang những người đeo huy hiêu lãnh tụ đỏ thắm, nằm ngồi la liệt. Đoàn tàu tốc hành phải thắng gấp…

10 giờ đêm ngày 11-11-1966 Trương Xuân Kiều với tư cách là Phó tổ trưởng cách mạng văn hóa Trung ương bay về Thượng Hải, lấy xe hơi phóng gấp đến An Đình. Dưới trời mưa lâm thâm, Trương Xuân Kiều vừa xuống xe, một thanh niên cao gầy, mặc bộ quân phục đã bạc mầu, không đeo quân hàm, quân hiệu vội vàng giương ô che những giọt mưa lạnh đang bay táp vào mặt Trương Xuân Kiều.

“Đồng chí Trương Xuân Kiều, đây chính là Vương Hồng Văn”, nghe lời giới thiệu, Trương Xuân Kiều đưa tay về phía người cầm ô. Đây là lần đầu tiên Trương Xuân Kiều bắt tay Vương Hồng Văn.

Vậy là, do làm “kịch bản mẫu”, Giang Thanh dắt Trương Xuân Kiều đi lên; do phê bình “Hải Thụy bãi quan” mà Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu văn Nguyên kết nghĩa. Lần này do sự kiện An Đình họ tăng thêm một đồng bọn.

Vương Hồng Văn xuất thân từ một gia đình nông dân tỉnh Liêu Ninh. Sau khi phục viên được điều đến làm công nhân ở nhà máy bông số 17 thành phố Thượng Hải, ít học nhưng rất có tham vọng chính trị. Hoạt động trong đoàn Thanh niên cộng sản rồi leo dần lên làm cán bộ bảo vệ, đó là bước đường đầu trên con đường chính trị.

Năm 1966 cuộc CMVH độc nhất vô nhị nổ ra. Vương Hồng Văn nắm ngay lấy cơ hội: Vương dán một tờ báo chữ to đầu tiên, nên nổi tiếng khắp trong nhà máy. Việc đánh đổ Bí thư đảng ủy cướp quyền lãnh đạo nhà máy chỉ là khởi đầu bước thang danh vọng. Hoạt động tạo phản của Vương nhanh chóng lan ra ngoài xã hội, chẳng mấy chốc Vương đã trở thành kẻ đứng đầu tập đoàn tạo phản ở Thượng Hải.

Nhờ “Sự kiện An Đình” Vương Hồng Văn đã nêu các điểm lên Trương Xuân Kiều, và dược Kiều chú ý:

Thứ nhất: “Bộ tổng tư lệnh công nhân” Thượng hải có phải là một tổ chức hợp pháp của cách mạng không?
Thứ hai: Chúng tôi đi Bắc Kinh để tố cáo Thị ủy Thượng Hải, đó là hành động mang tính chất gì?
Thứ ba: “Sư kiện An Đình” do ai chịu trách nhiệm?
Thứ tư: Có thể đáp ứng yêu cầu của chúng tôi là Tào Thu Hoạch phải kiểm điểm công khai không?
Thứ năm: Có thể cung cấp cho “Bộ tư lệnh công nhân” một số phương tiện để làm việc không?

Trương Xuân Kiều ngay tại ga An Bình thấy được lực lượng của “Bộ tư lệnh công nhân” tại Thượng Hải, bèn dựa vào lực lượng này để xung kích vào Thị ủy thượng Hải, đáng đổ Tào Thu Hoạch. Khi Thu đổ, Thượng Hải sẽ là thiên hạ của Trương Xuân Kiều.

Chính vì vậy, Trương ủng hộ Vương Hồng Văn nói trước hai ngàn công nhân: “Bộ tổng tư lệnh công nhân” là một tổ chức hợp pháp. Đi bắc Kinh để cáo trạng thị ủy Thượng Hải là một hành động cách mạng.

Vương Hồng Văn với danh nghĩa là Tư lệnh lớn tiếng hiệu triệu: “Đồng chí Trương Xuân Kiều là người được Mao Chủ Tịch cử đến. Sự ủng hộ của đồng chí Trương Xuân Kiều chính là sự ủng hộ của Mao Chủ tịch đối với chúng ta. Mục đích của chúng ta đã đạt được, chúng ta ngay bây giờ quay về Thượng Hải… ”

Trương Xuân Kiều và Vương Hồng Văn lần đầu tiên hợp tác thành công. Trương Xuân Kiều trên giấy trắng mực đen đã hạ bút ký chấp thuận 5 yêu cầu của công nhân. Tin này về đến Bắc Kinh, ông tổ trưởng “Cách mạng văn hóa trung ương” đứng về phía Trương Xuân Kiều; ông cố vấn Đào Chú chống lại. (sau này Đào Chú bị đấu).

Ngày 16-11-1966, Mao triệu tập hội nghị Bộ chính trị đã tỏ thái độ rõ ràng, Mao nói: có thể tiền trảm hậu tấu, bao giờ cũng “sự thực có trước, khái niệm có sau”.

Thế là Trương Xuân Kiều đã lập được công to. Trong sự kiện An Đình, Vương và Trương kết tình hữu nghị nơi hỏa tuyến. Vương giúp Trương đoạt quyền ở Thượng Hải, còn Trương giúp Vương nhảy vào Bắc Kinh.

Ngày 1-4-1969, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 9 khai mạc tại Bắc Kinh. Vương Hồng Văn được tham dự với tư cách là đại biểu của Thượng Hải, lại còn là thành viên của đoàn chủ tịch. Trước toàn thể đại hội, Vương mới có 34 tuổi, đọc bài phát biểu bằng tiếng Phổ thông lưu loát. Mao Trạch Đông chốc chốc lại đưa mắt nhìn con người trẻ tuổi bảnh bao đó. Vương Hồng Văn đã để lại trong ký ức Mao một ấn tượng đẹp.

Khi Lâm Bưu chết, Trần Bá Đạt bị gạt ra khỏi vũ đài chính trị. Trương Xuân Kiều cho rằng cơ hội đã đến, ông hy vọng đạt được chức Phó chủ tịch Đảng. Nhưng ngựa về ngược, lần này Mao lại chọn người kế tục trẻ tuổi Vương Hồng Văn.

Sau đại hội 10, Mao ủy thác cho Vương chủ trì công tác thường nhật của trung ương đảng. Chu Ân Lai vào nằm bệnh viện, lúc này Trương Xuân Kiều lại cố sức giành cho mình chức Phó thủ tướng thứ nhất; một lần nữa lại hụt, chiếc ghế này về tay Đặng Tiểu Bình, đối thủ nguy hiểm của nhóm bốn tên.

Ngày 8-1-1976, Chu Ân Lai đã vĩnh biệt thế giới này, chỗ dựa vững chắc của Đặng Tiểu Bình đã bị sụp đổ.

Trương Xuân Kiều cao hứng như mở cờ trong bụng, “giấc mộng Thủ tướng” mấy lần bị hụt nay có cơ hội thực hiện. Sự qua đời của Chu Ân Lai, khiến chiếc ghế Thủ Tướng tống khuyết. Còn Đặng Tiểu Bình có thể thay thế Chu nay bị “cơn gió phản kích lật lại bản án hữu khuynh” đẩy ra khỏi vũ đài chính trị.

Ngày 3-2-1976 tức ngày mồng bố tháng giêng năm Bính Thìn, Trương Xuân Kiều bị một cú “sốc” gục trên ghế sô-pha. Chính hôm đó, trên trang giấy in chữ to màu đỏ “Văn kiện Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc” đã công bố đến toàn đảng đề nghị của Mao Trạch Đông: bổ nhiệm Hoa Quốc Phong làm quyền Thủ tướng.

Hoa Quốc Phong sinh năm 1921, năm 1940 gia nhập đảng cộng sản, năm 1946 là bí thư huyện ủy kiêm chính ủy đại đội vũ trang huyện Dương Khúc. Cái tên Hoa chính ủy có từ đó. Cũng chính vì thế sau này có một bài ca nổi tiếng một thời “Núi Giao Thành, nước Giao Thành, trên đỉnh núi Giao Thành có một đội du kích, ở đó có đồng chí Hoa Chính ủy… ”

Mãi đến năm 1955, Hoa Quốc Phong viết ba bài báo: “Khắc phục tư tưởng tả khuynh chào đón cuộc vận động hợp tác nông nghiệp”; “Hãy nghiên cứu thấu đáo tình hình các tầng lớp ở nông thôn”; và “Kiên quyết dựa hẳn vào bần nông trong cuộc vận động hợp tác hóa”. Những bài viết này khiến Mao chú ý đến cái tên Hoa Quốc Phong. Trên đường đi hồ Nam, Mao gặp Hoa lần đầu. Mao chú đến Hoa: con người thâm trầm, thực thà và ít nói, lại có đức tính: nhiệt tình, chất phác, khiêm tốn, trung thực, tỉ mỹ và chu đáo, đã gây ấn tượng hoàn toàn tin tưởng nơi Mao. Nên Mao cất nhắc: từ đại biểu dự khuyết vào năm 1955, năm 1970 là ủy viên Trung ương đảng, cũng năm đó ký giả người Mỹ Snow viết bài về Hoa Quốc Phong đăng trên báo Mỹ, tên tuổi Hoa được nước ngoài biết đến. Nam 1971 Hoa lên ủy viên Bộ Chính trị, năm 1972 Bộ trưởng Bộ công an Tạ Phú Trị ốm chết, Hoa được cử lên thay. Mọi người đều hiểu Bộ trưởng Bộ Công an quan trọng biết chừng nào, nắm được chức vụ này Hoa đã có chỗ đứng vững chắc ở Bắc Kinh.

Là người Mao cất nhắc, Hoa chẳng có dây mơ rễ má gì với bè lũ bốn tên. Cũng không có quan hệ thân quen gì với: Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh; chỗ dựa duy nhất của Hoa là Mao Trạch Đông. Hoa ít tranh luận trong bộ chính trị, Hoa chỉ làm theo lệnh cuả Mao nên Mao tin cẩn. Hạ tuần tháng 4-1976 Mao nói: “Chú làm việc tôi yên tâm” đã xác định rõ hơn vai trò kế nghiệp của Hoa Quốc Phong. Ngày 9-9-1976, Mao chết, theo di chúc của Mao: ngày 6-10-1976 Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch đảng, chủ tịch quân ủy trung ương, kiêm Thủ thướng chính phủ.

28 ngày kể từ ngày Mao về chầu cụ Mác, ông Lê, đến ngày Hoa được chính thức bàu làm chủ tịch đảng. 28 ngày đêm ai thắng ai thua sẽ quyết định vận mệnh của Trung Quốc.

Lúc này chia làm hai phái rõ rệt: Phe Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng đã được Diệp Kiếm Anh ủng hộ để chống lại “Bang bốn người”.

“Bè lũ bốn tên” ngay từ lúc Mao bệnh nặng, theo chỉ thị của Giang Thanh, Mã Thiên Thủy (Bí thư thành ủy Thượng Hải) đã phát cho công nhân 53 ngàn khẩu súng trường kiểu bán tự động, 22.642 khẩu tự động, ngoài ra còn trang bị 200 khẩu liên thanh và 300 trọng pháo… cả một cuộc chuẩn bị võ trang để chống lại Hoa sau này. Còn tại Bắc Kinh dưới quyền điều khiển của tay chân Giang Thanh, hiện đang nắm quyền ở Đại học Thanh Hoa (một đại học lừng danh của Trung Quốc) được phân công đấu tranh trên mặt chữ nghĩa.

Mao vừa nằm xuống, Giang thanh tìm cách chiếm đoạt di cảo của Mao,nắm được di cảo là nắm được quyền phát ngôn, quyền giải thích tư tưởng Mao và lại sai khiến được thiên binh vạn mã. Di cảo của Mao quyết định tất cả. Giang Thanh cố tìm cho ra được 9 bài viết của Mao chưa công bố, không biết nằm đâu, nếu lọt vào tay Hoa Quốc Phong thì hậu quả khôn lường. Nhưng Giang Thanh cũng không quên kẻ thù nguy hiểm của phe nhóm mình là Đặng Tiểu Bình, Đặng tuy bị hạ bệ vào ngày 5-4-1976 nhưng không bị đấu tố, chỉ bị giam lỏng ở tư gia của mình. Nay Đặng đang là cố vấn cho Thống tướng Diệp Kiếm Anh dẹp loạn. “Nhóm bốn tên” quyết hạ đòn độc yêu cầu Bộ Chính trị cần ra quyết định đồng thời với việc bố cáo: Mao tạ thế, công khai tuyên bố với toàn đảng toàn dân “khai trừ vĩnh viễn Đặng Tiểu Bình”.

– Lý Tiên Niệm chậm rãi nói: “Không đúng rồi, Mao chủ tịch yêu cầu chúng ta lưu đảng tịch cho Đặng Tiểu Bình.

– Diệp Kiếm Anh và Hoa Quốc Phong cũng khuyên can Giang Thanh hãy lo việc quốc táng trước, còn việc Đặng sau này hãy bàn.

Ngay sau ngày tang lễ truy điệu Mao vừa chấm dứt, trên đài chủ tọa bước xuống, Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều bám sát lấy Hoa Quốc Phong. Giang Thanh đề nghị: “Ngày mai chúng ta mở hội nghị bàn một số vấn đề quan trọng, ngoài Vương, Trương hai ủy viên thường vụ ra, tôi và Mao Viễn Tân, Diêu Văn Nguyên đều phải tham dự, vì có nhiều điều cơ mật liên qua đến đảng và nhà nước”. Hoa Quốc Phong sợ mình hớ nên bảo sẽ mời Diệp Kiếm Anh vừa là Phó chủ tịch lại là ủy viên thường vụ (ủy viên thường vụ có 4 người). Phe nhóm Giang Thanh có thế lực tuyệt đối tại Thượng Hải không dễ gì dẹp nổi bằng chính trị, bằng lá phiếu vì thường vụ có 4 người thì phe họ chiếm 2. Ngoài ra Giang Thanh đang giương cao ngọn cờ Chủ tịch phu nhân và Diêu Văn Nguyên nắm quyền tuyên truyền trong cả nước.

Phe Giang Thanh tăng cường hoạt động:

– Ngày 1-10-1976, Giang Thanh phát biểu tại trường đại học Thanh Hoa vu cáo Đặng Tiểu Bình “bức hại” Mao Trạch Đông, kêu gào “Khai trừ đảng tịch Đặng Tiểu Bình” và rèn luyện thân thể để tiếp tục “đấu với chúng nó”.

– Ngày 3-10-1976, Vương Hồng Văn chạy đến huyện Bình Cốc, nói bừa rằng: “Ở Trung ương có kẻ theo chủ nghĩa xét lại, các đồng chí làm gì đối với họ bây giờ?” và khẳng định: “Từ ngày thành lập nước, Trung Hoa nảy ra nòi những: Cao Cương, Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình. Từ nay về sau còn rất nhiều loại Đặng Tiểu Bình như Đường Tiểu Bình, Vương Tiểu Bình, cần phải cảnh giác. Rõ ràng Vương Hồng Văn bóng gió công kích Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh là xét lại. Hôm đó Giang Thanh dẫn 30 người đến công viên hái táo bà tuyên bố: “Đừng hái nữa để ngày vui sắp tới”. Nói trắng, bà đang muốn nhanh chóng đến ngày: Vương Hồng Văn làm Ủy viên trưởng, còn mình là Chủ tịch đảng. Như Mao đã tiên đoán ngày 24-12-1974. Khuya hôm đó bè lũ bốn tên thúc giục trường đại học Thanh Hoa chỉnh lý nhanh chóng số tài liệu bôi nhọ: Hoa, Diệp, Lý… để chuẩn bị tung ra khắp Bắc Kinh. Đó là số súng đạn bọn bốn tên sản xuất ra, để lúc cần có thể đưa ngay ra chiến trường nhằm đoạt quyền.

Mọi biểu hiện cho thấy bè lũ Giang Thanh đã công khai chĩa mũi dùi vào Hoa Quốc Phong. Hoa Quốc Phong cũng nhận được gói tài liệu do Lý Tiên Niệm đem đến, ghi lại những hoạt động của Vương Hồng Văn tại Thượng Hải. Vương bí mật đi Thượng Hải để kiểm tra tình hình vũ trang của lực lượng dân quân tự vệ ở đây như thế nào và từ đó kịp thời chỉ thị hành động.

Còn tại Bắc Kinh, Giang Thanh và Mao Viễn Tân đang chăm chú đọc liệu chưa từng công bố của Mao và bày mưu sửa chữa trên những bản di bút của Mao, thì bị Uông Đông Hưng (là chánh văn phòng trung ương chính ủy quân đoàn bảo vệ Mao) trước đây bị Giang Thanh miệt thị và Trương Ngọc Phượng (thư ký riêng của Mao) theo lệnh của Hoa Quốc Phong yêu cầu: “Các đồng chí ra khỏi phòng và cho phép chúng tôi niêm phong toàn bộ những gì mà chủ tịch để lại và yêu cầu Giang Thanh trả lại những tài liệu đã mượn… ”

Nhóm Giang Thanh không biết, Hoa Quốc Phong có ba câu văn, ba thủ lệnh của Mao:

Ngày 30-4-1976, Mao hạ bút ghi trên giấy 3 câu: “Hãy từ từ đừng vội”, “Làm việc theo phương châm trước đây”, “Đồng chí làm việc tôi yên tâm”. Hoa còn có được biên bản ghi cảnh cáo Giang Thanh và phe nhóm: “Các người bảo đưa Trương Xuân Kiều lên làm Thủ tướng, chẳng khác gì tách một bộ phận ra khỏi tôi”. “Đồng chí Giang Thanh cần chú ý, nhiều người có ý kiến về đồng chí mà không dám trực diện. Đồng chí không nên lập hai nhà máy: sản xuất gang thép và sản xuất mũ, đồng chí chụp mũ người ta quá nhiều đấy”. “Không được xuất đầu lộ diện phê bình văn kiện, lập nội các. Người ta thù oán cô nhiều lắm đó”.

Cuối cùng ngày 3-5-1975, Mao chỉ thị: “Vấn đề bốn người này, sáu tháng đầu năm giải quyết không xong thì sáu tháng cuối năm phải làm. Năm nay không xong, thì sang năm phải làm; sang năm không xong thì sang năm sau nữa… ”. Lý Tiên Niệm đọc xong mừng rỡ: “Ba câu nói đó khác nào như tam bảo kiếm, đồng chí Hoa Quốc Phong sợ gì Giang Thanh, Mao Viễn Tân tuy họ là người nhà của Mao chủ tịch, nhưng đều tay không”.

Hoa Quốc Phong muốn tiến hành xử lý nhóm Thượng Hải một cách hợp pháp, còn Lý Tiên Niệm và nhóm tiền bối lại yêu cầu dùng võ lực, vì nhóm Giang Thanh ngày càng lấn tới.

Giang Thanh phân công: Diêu Văn Nguyên phụ trách công tác báo chí, hãy đưa toàn bộ nội dung và tình tiết phiên họp chính trị ngày 29-9-1976, lên phương tiện thông tin đại chúng, nhằm bôi nhọ Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh. Vương Hồng Văn đi Xương Bình tiếp tục lôi kéo quân đội, bí mật điều sư đoàn xe tăng về Thủ đô. Trương Xuân Kiều với danh nghĩa Chủ nhiệm Cục chính trị quân Giải phóng luồn sâu vào hàng ngũ tướng lãnh, tách họ ra khỏi ảnh hưởng của Diệp Kiếm Anh. Còn chính mình đi đại học Thanh Hoa hâm nóng lại phong trào sinh viên.

Giang Thanh coi thường Hoa Quốc Phong rất ít kinh nghiệm lãnh đạo tại Trung ương, nên trong việc quyết định để giải quyết các vấn đề còn do dự, không dám quyết đoán. Nhưng họ lầm lớn: người ủng hộ Hoa là một Nguyên soái nhìn xa trông rộng biết dấu mình. Ông không giống ai đó: chưa động binh đã nổi gió, chưa ra tay đã hù thiên hạ; chỉ khi nào đảm bảo thành công 99%, Diệp Kiếm Anh mới tiết lộ kế sách của mình.

Diệp Nguyên soái đã có lần nói về “nhóm bốn tên”: “Giang Thanh là Bạch cốt tinh, có đủ 18 ban võ nghệ, ngón nào cũng giỏi. Trương Xuân Kiều đã được đời người gọi là “rắn đeo kính”, quân sư của ba người kia, một bụng đầy dao găm và mưu ma chước quỉ. Diêu Văn Nguyên, cái gậy tuyên truyền, mở miệng là lý luận, bất cứ lúc nào cũng có thể gây bão cấp 12 làm hại hoặc quật ngã người khác. Đáng đề phòng nhất là Vương Hồng Văn trong nhà luôn luôn có hàng chục khẩu súng, hàng ngàn viên đạn và một lũ hắc cẩu. Hắn từng nói: “Khử ta không dễ đâu”.

Cho nên khi Hoa Quốc Phong định áp dụng biện pháp mềm dẻo để hạ tụi bốn người, đã bị Diệp tướng quân phản đối.

Nhận định của Nguyên soái họ Diệp càng ngày càng chính xác và tình hình cũng càng ngày càng thúc bách. Hoa Quốc Phong chọn phương án của Diệp Kiếm Anh. Hoa nắm cái thế, Diệp và Uông nắm lực:quân đội và lực lượng cảnh vệ trung ương. Nên đến giờ N sẽ tóm trọng cả bọn “bốn tên” và Mao Viễn Tân…

Vương Hồng Văn đang tập bắn tại trường bắn Tây Sơn, thì nhận được điện thoại của trực ban báo: “8 giờ tối ngày 6-10-1976, ban thường vụ Bộ chính trị họp tại Hoài Nhân Đường, xin kính mời đồng chí tham dự”. Vương tỏ vẻ xem thường Hoa Quốc Phong: từ ngày Mao mất Hoa không dám quyết định việc gì, hở một tí là họp. Phòng họp Hoài Nhân Đường hôm ấy chỉ có hai chiếc ghế bành cho Diệp và Hoa. Nội ngoại tuyến đều do Uông bố trí, yểm trợ bên ngoài có lực lượng của Diệp. Theo kỷ luật từ hồi Mao còn sống, chỉ có một mình thủ trưởng vào phòng họp còn tất cả các nhân viên bảo vệ đều ở ngoài. Lần này Vương Hồng Văn cũng phải tuân theo kỷ luật đó. Vương tự đắc bước vào phong họp, nhưng đón tiếp Vương lần này là bốn chiến sĩ cảnh vệ lực lưỡng cùng hô lớn:

– Đứng yên giơ tay lên!

– Ta đến họp thường vụ, các ngươi muốn gì?

Vương kêu to: “người đâu!” nhưng ngoài kia người của Vương đã bị tóm. Vương là võ tướng của Tứ nhân bang, nên các chiến sĩ phải mất một phen quần thảo mới còng được tay Vương, dẫn đến trước Hoa và Diệp. Sau quyết định: “… Vương Hồng Văn phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng, Trung ương cho lệnh cách ly thẩm tra” do Hoa Quốc Phong tuyên đọc. Trường hợp Trương Xuân Kiều và Diêu văn Nguyên cũng vậy, nhưng họ là văn quan trói gà không chặt, nên không có phản ứng ngoan ngoãn chịu cho còng tay đi về nhà giam. Còn Giang Thanh biện pháp nhẹ nhàng hơn: toán bảo vệ Giang Thanh được gọi về văn phòng nhận chỉ thị mới bàn giao cho toán khác. Toán này có lệnh bắt giải Giang Thanh về phòng giam. Mao Viễn Tân cũng đêm hôm đó tại tư dinh của mình, sau khi khẽ kêu: “Bác ơi, tạm biệt!” là bị bắt và sống chuỗi ngày tù ngục.

Đúng 10 giờ đêm ngày 6-10-1976 mọi việc hoàn tất theo kế hoạch. Tại lầu số 9 Ngọc Tuyền Sơn, hội nghị bất thường Bộ chính trị với sự tham gia của 11 thành viên đã thông qua quyết định Hoa Quốc Phong đảm nhận chức vụ: Chủ tịch Đảng, chủ tịch Quân ủy, kiêm thủ tướng chính phủ.

Hoa Quốc Phong đã làm đúng ý định của Mao là giải quyết ‘bè lũ bốn tên” để tránh khỏi cảnh đầu rơi máu chảy. Đồng thời Hoa vẫn trung thành làm theo những sai lầm tả khuynh trong thời CMVH của Mao. Hoa Quốc Phong tuyên bố: “Phàm là chỉ thị của Mao chủ tịch tôi kiên quyết thực hiện. Phàm là những quyết sách của chủ tịch, tôi tuân thủ đến cùng, tôi nhất định… ”. Hoa Quốc Phong vẫn lên án Đặng Tiểu Bình, phản kích việc xóa án hữu khuynh. Nhiều người ngồi nghe khó hiểu: tại sao lại xếp Đặng ngang với nhóm bốn tên, sao không cho Đặng làm việc lại…

Phải chờ đến tháng 7-1977, hội nghị lần thứ 3 Trung ương khóa 10: chính thức khôi phục lại chức vụ mà Đặng đã bị mất 15 tháng trước: Ủy viên trung ương đảng, Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Thường vụ bộ chính trị, Phó chủ tịch Trung ương đảng, Phó chủ tịch Quân ủy, Phó Thủ tướng chính phủ, Tổng tham mưu trưởng quân đội.

Lúc này nội bộ lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc chia làm 2 phái:

– Phái thực tiễn do Đặng Tiểu Bình và Hồ Diệu Bang đứng đầu.

– Phái “phàm là” do Hoa Quốc Phong và Uông Đông Hưng đứng đầu.

Cuộc tranh luận giữa hai phái này, khi trong hội nghị lúc trên báo chí, kéo dài hơn một năm đến tháng 8-1978: các tỉnh, các thành phố, các khu tự trị sôi nổi tỏ thái độ ủng hộ cuộc thảo luận về tiêu chuẩn THỰC TIỄN. Chỉ có tỉnh Hồ Nam (quê hương của Mao và Hoa) nghe lời Hoa, nhưng cuối cùng cũng ngả theo. Đây là một loại tỏ thái độ đặc biệt. Tán thành tiêu chuẩn THỰC TIỄN, thực chất là tán thành phái Thực tiễn của Đặng Tiểu Bình. Vì vậy việc tỏ thái độ của các tỉnh có nghĩa là phái PHÀM LÀ rơi vào cô lập, phái thực tiễn đã thắng.

Trong hội nghị công tác trung ương kéo dài 36 ngày từ ngày 10-11 đến ngày 16-12-1978, PHÁI THỰC TIỄN hoàn toàn nắm quyền chủ động, làm đảo lộn chương trình của Hoa Quốc Phong. Hình thành một loạt quyết định quan trọng:

1) Sửa sai các sự kiện Thiên An Môn (ngày 4-4-1976).
2) Hủy bỏ văn kiện phê phán làn gió lật án hữu khuynh của Đặng Tiểu Bình.
3) Sửa sai vụ án tập đoàn 61 người.
4) Sửa sai cho “dòng nước ngược tháng hai”.
5) Sửa đổi những kết luận sai lầm về: Bành Đức Hoài, Đào Chú, Dương Thượng Côn.
6) Bỏ tổ chuyên án Trung ương.
7) Thẩm tra tội ác: Khang Sinh, Tạ Phú trị.
8) Chỉ thị cho các tỉnh, các thành phố, khu tự trị: căn cứ vào nguyên tắc THỰC SỰ CẦU THỊ (coi trọng thực tế khách quan), xử lý một số việc quan trọng nảy sinh trong CMVH.

Những NGƯỜI và VIỆC nêu ra trong 8 quyết định này, đều là những vụ án quan trọng do Mao hoặc nhóm “bốn tên” gây ra. Nay đã lật lại toàn bộ, tỏ ra phái PHÀM LÀ thất bại hoàn toàn. Ngày 13-12-1978 Hoa Quốc Phong và Uông Đông Hưng bị buộc phải kiểm thảo nhận sai lầm về “hai phàm là”.

Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 3 khóa XI đã xác lập toàn diện đường lối tư tưởng, đường lối chính trị và đường lối tổ chức của phái thực tiễn. Đánh dấu sự bắt đầu thời kỳ cầm quyền của ĐẶNG TIỂU BÌNH.

Thái Việt

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s