Chút duyên kỹ-thuật (Nguyễn Văn Sở)

Giáo sư Nguyễn Văn Sở

Mùa tựu trường 1960 tôi rời khỏi Huế vào Đà Nẵng dạy học. Cụ Ngô Đình Diệm về chấp chánh mới được có 6 năm và vẫn còn đang cố gắng từng bước xây dựng những cơ chế của chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa. Vào thời đó, muốn vào ngành giáo dục ở Miền Nam bằng “cổng chính” thì thông thường phải theo học các trường sư phạm để trở thành giáo viên tiểu học (như trường Sư Phạm Qui Nhơn), giáo sư trung học đệ nhất cấp, hoặc giáo sư trung học đệ nhị cấp (như Đại Học Sư Phạm Sài-gòn hay Đại Học Sư Phạm Huế), ngoại trừ một số rất ít những vị du học từ nước ngoài về.

Khác với đa số đồng nghiệp cùng lứa tuổi tôi vào thời điểm trên, tôi không được cái may mắn xuất thân từ một trường sư phạm nào ở trong nước cả nên đã vào ngành giáo dục qua “cổng phụ” . Vì hoàn cảnh gia đình một phần và cũng vì những thay đổi bất khả kháng trong một xã hội nhiều biến động, tôi phải đi theo một lộ trình khác, vừa dạy vừa học. Cho nên, mặc dù tên tuổi không gắn liền với bảng hiệu một ngôi trường nào đó thật lâu dài, sự trưởng thành của tôi trong nghề nghiệp cũng có khác, vì tôi đã có cơ hội dạy qua rất nhiều trường, nhiều lớp, từ trung học đến đại học, hay những trung tâm ngoại ngữ, và học viên của tôi cũng thuộc nhiều trình độ, lớp tuổi, và ngành nghề khác nhau, ngoài dân sự cũng như trong quân đội.

Thời gian theo đuổi cái nghiệp nhà giáo của tôi, so với một số đồng nghiệp cùng thời, cũng tương đối khá dài. Khởi đi từ Huế vào Đà Nẵng năm 1960, Sài-gòn năm 1965, Đà-Lạt năm 1973, rồi sau 6 năm đại nạn như bao nhiêu anh em khác ở Miền Nam qua các địa danh Long Giao, Hóc Môn, Phước Long, Bù Gia Phúc, Bù Gia Mập, và cuối cùng là Gia Trung, Gia Lai – Kontum, về Sài-gòn năm 1981 lại tiếp tục nghề dạy học nhưng là dạy “chui” tại nhà cho đến ngày lên đường rời Sài-gòn theo diện tị nạn HO1, đợt đầu tiên, ngày 5 tháng 1 năm 1990.

Ba mươi năm đầu dạy học ở Việt Nam cuộc đời tôi cũng thăng trầm theo những đổi thay của vận nước. Ở Đà Nẵng, 1960-1965, tôi đã dạy ở các trường Trung Học Nguyễn Công Trứ, Kỹ Thuật, Bồ Đề, Văn Hóa Quân Đội, và Trung Tâm Ngoại Ngữ Bích Ngọc. Vào Sài Gòn, 1965-1971, sau 9 tháng tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (động viên Khóa 20, cùng Khóa với Thầy Lê Đình Thọ) tôi được đưa về dạy Trường Sinh Ngữ Quân Đội. Từ đó tôi cũng đi dạy thêm ở Hội Việt-Mỹ. Sau 2 năm du học về ngành giảng dạy Anh Ngữ (TESL: Teaching English as a Second Language, hay còn được gọi là TESOL: Teaching English to Speakers of Other Languages) tôi được đưa vể dạy Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà-Lạt. Ở tại thành phố này tôi cũng có dạy thêm tại hai Truờng Chánh Trị Kinh Doanh và Văn Khoa thuộc Viện Đại Học Đà-Lạt, và làm Giám Đốc Học Vụ, Hội Việt-Mỹ (Director of Courses) tại đây cho đến khi nền Đệ Nhị Cọng Hòa sụp đỗ.

Trong 6 năm tù, 1975-1981, qua các trại giam khác nhau, để khỏi bị trầm uất thỉnh thoảng tôi cũng dạy kèm cho một số các bạn đồng tù khi điều kiện cho phép, thường là lén lút sau những giờ đi lao động, và trong mấy năm cuối ở Gia Trung, khi đã được chuyển giao qua cho Công An, tôi còn dạy cả cho cán bộ coi tù sau khi các phòng giam đã bị khóa kín lại. Đây cũng là một chuyện ít ai biết mà tôi sẽ kể lại trong một bài viết khác nói về cái nghiệp dạy học của tôi.

Chín năm sau đó, 1981-1990, sau khi tình trạng quản chế tại gia đã được nới lõng, tôi tìm cách mưu sinh bằng những lớp dạy “chui” tại nhà, đồng thời cũng có đóng góp với bên ngoài để được yên thân như giúp Trung Tâm Bồi Dưỡng Bách Khoa trong chương trình giảng dạy Anh Ngữ, lúc đó đã được dần dần phát triển vì nhu cầu, và làm cố vấn cho Trung Tâm Ngoại Ngữ Sepzone, tiền thân của một đại học dân lập sau này. Trong thời gian này thỉnh thoảng tôi lại được mời đến nói chuyện hay hướng dẫn các khóa hội thảo về giảng dạy Anh Ngữ tại Đại Học Sư Phạm hay Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật, nơi tá túc của một số lớn anh em chúng tôi sau khi đi tù cải tạo về.

Qua đến miền đất hứa này đầu năm 1990, tôi có cái may mắn hiếm hoi là được nhận vào dạy ngay tại một Đại Học Cộng Đồng ở Nam California bắt đầu từ Hè năm đó mà không phải qua một thời kỳ đi học lại. Từ đó đến nay cũng đã được thêm 20 năm nữa. So với 30 năm đầu khá nhiều đổi thay trên quê hương Miền Nam Việt Nam đầy biến động, 20 năm vừa qua trên đất nước này, tôi mới được an cư một nơi, làm việc một chỗ, và cuộc đời nhà giáo cứ thế mà lặng lẽ trôi lăn theo tháng năm, hoàn toàn không còn những ám ảnh thường xuyên bị theo dõi, rình rập, cuộc sống không còn bị ảnh hưởng bởi những chính sách tùy tiện, nay thế này, mai thế khác.

Orange Coast College

Ôn lại một chút quá khứ như vậy để nói tiếp đến cái “duyên” của tôi với các anh chị em trường Kỹ Thuật Đà Nẵng, tuy là trường tôi chỉ dạy một thời gian ngắn có mấy năm trước khi vào quân ngũ (thời Giáo Sư Nguyễn Văn Minh làm Hiệu Trưởng, sau được thay thế bởi Giáo Sư Nguyễn Hữu Tỵ), nhưng do những điều kiện thuận lợi khách quan cụ thể, mặc dù đã gần nửa thế kỷ trôi qua với biết bao thăng trầm dâu biển, cái duyên đó vẫn còn rất đậm đà, thân ái mãi cho đến tận ngày nay.

Sau khi ra khỏi trại năm 1981, trong các kỳ họp mặt của Kỹ Thuật Đà Nẵng ở Sài-gòn, tôi đã có dịp gặp lại các thầy Huỳnh Phương, Lê Văn Nghĩa, cô Mộng-Hoàn và một số anh em còn nhận ra tôi. Qua đến bên này, do điều kiện có thuận lợi hơn, các kỳ họp mặt cũng thường xuyên hơn, khi thì ở nhà người này khi thì ở nhà người khác. Đáng kể nhất là các lần họp tại nhà Thầy Thạc (Hawthorne), Thầy Thọ (Westminster), Thầy Phương (Ontario), Thầy Biên (Dana Point), hay tại chính nhà tôi (Costa Mesa). Hay tại nhà các ái hữu Huỳnh Phổ (Westminster), Tô Tiếng (Riverside), Trần Văn Thuận (Riverside), Nguyễn Kim Dõng (Westminster), Võ Văn Thiệu (San Bernardino), Đỗ Thanh Long (Moorpark), Đỗ Văn Phước (Laguna Hills), Trần Công Minh (Garden Grove), Nguyễn Văn Thảo (San Diego), và Nguyễn Văn Minh-Phụng (San Jose). Có khi còn tổ chức họp mặt ở nhà một thân hữu như cặp Sâm-Vân (Westminster). Kỳ họp mặt nào cũng vui, cũng để lại nhiều hình ảnh, nhiều kỷ niệm đậm đà.

Họp mặt KTĐN Nam Cali

Gần đây thì lại càng thường xuyên hơn nữa, hầu như cứ mỗi hai tuần chúng tôi ở Nam California lại hẹn gặp nhau tại tiệm cà phê Tip Top (Westminster). Cũng trà, cà phê, hay nước trái cây xay, cũng bánh mì thịt, patê sô (pate’ chaud), đậu phụng luộc, sắn (củ mì), nhưng chuyện trò thì tự do, chuyện xưa chuyện nay, chuyện người chuyện mình, chuyện kể những chuyến đi chơi chỗ này chỗ nọ, chuyện may mắn ở một Casino nào đó của người Da Đỏ (cháy túi thì ít khi thổ lộ tâm tình), cứ vậy mà “ồn ào” với nhau mãi cho đến khi “mỏi miệng” mới chịu chia tay ra về sau khi chụp với nhau những tấm hình kỷ niệm, để rồi lại lại làm những slide show lồng nhạc gởi đi cho ái hữu các nơi khác xem hầu chia sẻ cái vui của anh chị em Nam California. (Nói là chia vui nhưng thật tình cũng muốn chiêu dụ, mời mọc nữa!)

Kiểm điểm hiện diện trong những buổi họp mặt như vậy gần như bao giờ cũng có đủ các cặp Tiếng-Thảo, Chinh-Hồng, Thuận-Gái, Khương-Thái, Dõng-Sửu, Thu Hương-Mậu, Bảo Huê, “ông ngoại” Hà-Nga (từ Bắc California xuống Irvine babysit cháu), Thiện (vừa ở Việt Nam qua), Phượng Cát (mỗi lần có dịp xuống Little Saigon), cặp thân hữu Sâm-Vân, hai chị em Hường-Lợi, đôi khi còn có sự góp mặt của Võ Văn Thiệu, Lê Đức Phẩm, hay nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, v.v…Về phía giáo sư, lần nào cũng có mặt cặp Thạc-Diệu, hay vui vẻ một mình như Thầy Phương, Thầy Thọ, và tôi (kể từ ngày nhà tôi tình nguyện làm babysitter cho cháu ngoại). Thỉnh thoảng cũng có thêm sự tham dự của các thầy Biên, Lâm, Quảng. Họp mặt thì đôi khi cũng có sự tham dự của Thầy Trương Văn Hậu, các Cô Trần Thu-Hoài, Diệu-Lan, Phi-Phương, Huệ, hay các ái hữu Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Tụy, Trịnh Hý Phùng, Nguyễn Văn Hứa … Thử hỏi có trường sở nào hay đoàn thể nào ở đâu có được sự gắn bó thân tình với nhau như nhóm ái hữu Kỹ Thuật của chúng tôi ở Nam California?

Những năm vừa qua, sở dĩ chúng ta thấy gần gủi nhau hơn một phần cũng là nhờ mạng lưới Internet toàn cầu đã tạo điều kiện cho anh em chúng ta liên lạc với nhau dễ dàng và thường xuyên hơn. Mà đâu phải chỉ có thuần liên lạc, thông tin, còn chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, giới thiệu cho nhau những mạch nối (links) dẫn đến những kho tàng thơ, văn, nhạc, họa, phim, ảnh vô cùng phong phú, những tài liệu lịch sử quý hiếm, những văn thư lưu trữ vừa được giải mật, v.v…

Cũng chính nhờ mạng lưới này mà chúng ta từ những nơi định cư rất xa nhau đã có thể phối hợp hành động trong các sinh hoạt chung như “quan, hôn, tang, tế”, giúp đỡ, tương trợ nhau khi có ai gặp khó khăn, hoạn nạn, thăm viếng, an ủi nhau khi đau ốm ngặt nghèo, chia sẻ với nhau những kỷ niệm vui buồn khó quên, từ đó thấy gần gủi nhau hơn như anh em trong một đại gia đình.

Mà đã nói là đại gia đình thì đâu có giới hạn quanh vùng Little Saigon, Nam California. Trong một số buổi họp mặt anh em Nam California cũng đã có dịp gặp lại Thầy Hiệu Trưởng Hồ Sĩ Hùng và Cô Mộng Hoàn từ Bắc California xuống, Thầy và Cô Đoàn Đức Triệu từ Maryland qua, hay các ái hữu từ các tiểu bang khác đến chơi như Lê Tất Chánh, Nguyễn Văn Thọ, Lê Đình Thuyên, Phạm Văn Thìn (Texas), Đỗ Quý Phùng (Florida). Đặc biệt hơn là các cuộc đón tiếp Quý Giáo Sư từ Việt Nam qua thăm viếng bà con, bạn bè, hay đi du lịch như Thầy Trần Phát Lạc, Cô Triệu Thị Chơi, Thầy Tôn Thất Liệu, Thầy Nguyễn Sỹ Long (Sài-gòn), Thầy và Cô Hà Quý Phú, Thầy Đặng Công Hanh, Thầy Bùi Ngọc Liệu (Đà Nẵng), hoặc như các ái hữu Đỗ Duy Ngọc, Phan Minh Có, Nguyễn Đợi (Sài-gòn), Nguyễn Mười (Đà Nẵng). Từ ngoài Hoa Kỳ còn có Phan Công Hào (Saudi Arabia), Phan Huế, Nguyễn Kỳ (Úc). Đầu năm nay trong dịp Đaị Hội Liên Trường Quảng Nam-Đà Nẵng tại San Jose, tôi mới có dịp gặp Thầy và Cô Trịnh Như Tích (San Jose), Thầy Nguyễn Hữu Thành và Cô Nguyễn Ngọc Ánh (Missouri), Thầy và Cô Phan Tiến Bé (Đà Nẵng). 

Trường Kỹ thuật Đà Nẵng

Thật ra khi vào Đà Nẵng năm 1960 tôi chưa dạy ở Kỹ Thuật ngay mà dạy chính ở Trung Học Nguyễn Công Trứ, một trường tư do ông Lâm Mỹ Bạch Tuyết (dân biểu quốc hội Đệ Nhất Cọng Hòa) thành lập và đứng tên làm hiệu trưởng, qua giới thiệu của cố Giáo Sư Nguyễn Thanh Ngân, người Đà Nẵng. Ngân và tôi đều học năm cuối trung học với nhau ở Quốc Học sau khi chương trình Pháp mà chúng tôi vẫn theo học chấm dứt ở Huế theo lệnh của Tổng Thống Diệm. Vào Đà Nẵng năm đầu tiên tôi tạm trú tại nhà của ông bà Lê Đình Tiếng, một nhà thầu xây cất đầu tiên rất giàu có ở Ngã Năm. Vì tình quen biết giữa hai gia đình ông bà coi tôi như con cái trong nhà, nên chuyện ăn chuyện ở tôi không phải tốn kém gì cả trong thời gian đầu. Cần nói thêm là “better half” của Thầy Hoàng Văn Thạc bây giờ là một trong những người con gái của ông bà Lê Đình Tiếng, cho nên chúng tôi vẫn coi nhau như anh em. Và sau này tôi được biết là các ái hữu Lê Đức Chinh, Lê Đức Phẩm cũng có liên hệ gia tộc xa gần với họ “Lê Đình” bên vợ của Thầy Thạc.

Cùng dạy Nguyễn Công Trứ với tôi và Giáo Sư Nguyễn Thanh Ngân vào thời đó còn có cố Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ, và Giáo Sư Nguyễn Văn Diễn (Pháp Văn), sau này cũng tham gia dạy giờ tại Kỹ Thuật với tôi cùng một số giáo sư khác của trường Phan Châu Trinh như Nguyễn Ngọc Thanh (Toán), Lê Quang Mai (Lý Hóa), và Tôn Thất Lan (Anh-Văn). Thanh và Mai có thời gian cùng thuê chung nhà trọ với tôi tại 35 Nguyễn Thị Giang.

Cựu học sinh Nguyễn Công Trứ tôi gặp lại trên đất Mỹ cũng khá đông, trong đó phải kể “better half” của ái hữu Nguyễn Kim Dõng. Còn cựu học sinh Kỹ Thuật thì có ít người còn nhớ tôi, ngoại trừ anh Hoàng Minh Ngọc, có lẽ vì anh Ngọc sau này còn gặp lại tôi tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội, Sài-gòn, lúc anh được thi tuyển vào làm thông dịch viên cho quân đôị Hoa Kỳ và về Trường Sinh Ngữ học thêm. Sau khi trở lại Hoa Kỳ năm 1990, một trong những ái hữu Kỹ Thuật tôi gặp lại đầu tiên là anh Hoàng Minh Ngọc lúc anh còn là chủ nhân một garage lớn trên đường Westminster, vì thỉnh thoảng tôi vẫn đưa chiếc xe Oldsmobile Delta 88 cũ của tôi đến nhờ anh sửa. Thẳng thắn mà nói, anh Ngọc là một người rất có tình với thầy xưa, bạn cũ. Có năm anh đã lái xe xuống tận nhà tôi ở Costa Mesa chỉ để biếu tôi một tập báo xuân, làm tôi rất cảm động. Lúc khá giả anh còn là một người rất hào phóng, lần nào đi ăn uống chung với nhau anh cũng dành phần trả tiền cho các thầy cũ của anh. Bây giờ ngồi viết những dòng này tôi lại nhớ đến anh và thấy thương anh vô hạn mà không thể làm gì được để giúp đỡ anh. Sau khi bị tai biến mạch máu não và phải mỗ để lấy máu bầm ở trên đầu, hiện giờ anh đang nằm mê man tại French Park Care Center (600 E Washington Ave., Station A, #261, Santa Ana, CA 92701), chờ phép lạ.

Nói về cái duyên với Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng, có lẽ tôi phải nói thêm về “hành trình” vất vả của một tấm hình các giáo sư Trường Kỹ Thuật chụp năm 1964 mà tôi may mắn còn giữ được. Tấm hình này đã “di tản” theo tôi từ Đà Nẵng vào Sài-gòn, lên Đà Lạt, xuống Phan Rang, trở lại Sài-gòn, rồi cuối cùng theo tôi qua đến bên này Thái Bình Dưong.

Cuối tháng 3 năm 1975 tôi theo đoàn xe của sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia di tản từ Đà Lạt về Phi Trường Bình Tuy, trước khi được C130 (tải đạn từ Sài-gòn ra yểm trợ mặt trận Bình Tuy) bốc về Thủ Đức. Trước đó, mấy thùng sách quý về ngành dạy tiếng Anh cùng với những thùng albums của tôi đã được gởi lại tại nhà một người bạn ở Phan Rang. “Gia tài” của tôi lúc đó chỉ vừa đủ một chiếc Peugeot 203 rất cũ, trên đó có cha, mẹ, vợ, hai con, và một người bạn cùng Khoa Sinh Ngữ/Văn Hóa Vụ/Trường Võ Bị. Vì lái xe dân sự trong cảnh hoảng loạn cuối tháng 3, khi xe tôi chạy qua Tháp Chàm thì bị cướp (do tù vượt ngục) lột sạch (mất đồng hồ đeo tay, tiền còn trong ví…). Về đến Phi Trường Bình Tuy tôi bỏ xe ngoài cổng Phi Trường để lên máy bay C130 đưa gia đình về Sài-gòn. Như vậy là trước khi chế độ Miền Nam sụp đổ tôi đã hoàn toàn trắng tay, không còn một thứ gì có giá trị đổi chác nữa cả.

Nhưng còn một tấm hình. Sau khi tôi đi “tập trung cải tạo”, nhà tôi tiếc của đã ra Phan Rang xin lại những thùng sách và albums. Sách thì không còn vì đã được ném xuống hồ rau muống sau nhà người bạn, nhưng còn những thùng albums. Nhờ vậy mà tấm hình tôi nói ở trên mới được “tị nạn” theo tôi cho đến ngày nay. Trước đây ái hữu Trần Văn Thuận thấy hình quý đã đưa ra Kinko scan lại và sang ra cho nhiều aí hữu khác. Thầy Thọ cũng vừa in lại trong tập Xanh Hoài Niệm, Giai Phẩm kỷ niệm 50 năm Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng, 1961-2010. Nhưng còn thiếu ghi chú về danh tính những giáo sư có mặt trong bức hình đó.

Sau khi chỉnh độ sáng của tấm hình này, tôi đã post lên trên diễn đàn aihuu_ktdn@yahoogroups.com nhiều lần, hy vọng với trí nhớ của nhiều ái hữu khắp nơi, chắc chắn mọi người trong hình sẽ được nhận diện hết. Cho đến hôm nay (June 17, 2010) nhờ Thầy Thọ, Thầy Phương, cô Kim Sa, hai anh Đỗ Duy Ngọc (Sài-gòn) và Đoàn Văn Phô (Đà Nẵng), tôi đã nhận ra tất cả những thầy cô có mặt trong hình ngoại trừ một người đứng ở hàng thứ hai, giữa hai thầy Hồ Đình Biên và Trần Như Ái. Vị giáo sư này tên gì vậy, có ai nhận ra không?

Xin lập lại nơi đây danh tính của các vị giáo sư trong hình.

Hàng đầu, từ trái qua: Đoàn Sùng (bị che mất một phần), Lê Văn Tô, Nguyễn Miễn, Nguyễn Văn Diễn, Trần Thị Kim Sa, Nguyễn Thị Trai, Võ Thị Hồng Nhụy, Tôn Nữ Lệ Tuyết, Dương Thị Ngân Hà, Trịnh Thị Diệu Lan, Nguyễn Văn Minh, và Lê Văn Nghĩa.

Hàng thứ hai, từ trái qua: Hồ Đình Biên, ? , Trần Như Ái, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thanh Ngân, Tôn Thất Lan, Huỳnh Phương, Lê Quang Mai, Mai Văn Tánh, Nguyễn Thanh Nguyên, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Văn Sở, và Hà Quý Phú.

Trong 25 người trong hình chụp năm 1964 thì đã có đến 7 người vĩnh viễn giả từ bè bạn, đồng nghiệp: Các thầy Đoàn Sùng, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Thanh Nguyên, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Thanh Ngân, Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Minh, và Cô Võ Thị Hồng Nhụy. Tất cả đều là đồng nghiệp của tôi, một đời gắn bó với phấn trắng, bảng đen, một đời tận tụy với thiên chức nhà giáo Việt Nam. Ngoài ra, trong số các vị có mặt trong hình mà chúng tôi nhận diện được nhưng bây giờ không biết lưu lạc phương nào thì chúng tôi cũng không rõ là còn sống hay đã mất.

Nói đến cái “duyên” đã đưa tôi đến với Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng, đã cho tôi gặp gở những đồng nghiệp, những anh chị em xuất thân từ Trường Mẹ để rồi trở thành bè bạn thân thiết suốt bao nhiêu năm tháng qua, tôi không thể không nghĩ đến thành tố thứ hai là “nợ” vẫn đi kèm với “duyên”. Trong ngôn ngữ dân gian, người Việt chúng ta vẫn nói “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. “Duyên” đây mới là một cơ may ngẫu nhiên, một tình cờ trong cuộc sống đã mang lại cho mình một sự gặp gỡ, làm quen, nhưng phải có “nợ” với nhau như thế nào đó thì mối quan hệ khởi phát từ cái duyên trên mới trở thành khắng khít, gắn bó, lâu dài.

Thi hào Nguyễn Du mô tả tâm trạng Kim Trọng tương tư, thương tưởng đến Thúy Kiều qua mấy lời than thở sau đây cho thấy cái quan hệ định mệnh gắn bó nhau do nợ nần nhau từ kiếp trước không dễ gì rứt ra được, mà có khi phải trả đến “ba đời”:

Mành Tương phân-phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.
Ví chăng duyên-nợ ba sinh,
Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
(255-258)

Cố Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông chuyển ngữ 4 câu thơ trên như sau:

Hsiang bamboo blinds stirred rustling in the wind –
incense roused longing, tea lacked love’s sweet taste.
If fate did not mean them to join as mates,
why had the temptress come and teased his eyes?

Duyên nợ của những người yêu nhau là vậy. Còn tôi, nợ hay không thì cái tình giữa tôi với bạn bè, đồng nghiệp của tôi từ Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng cũng đã trường tồn gần nửa thế kỷ rồi.

Nguyễn Văn Sở

Hè 2010

Hàng đầu, từ trái qua: Đoàn Sùng (bị che mất một phần), Lê Văn Tô, Nguyễn Miễn, Nguyễn Văn Diễn, Trần Thị Kim Sa, Nguyễn Thị Trai, Võ Thị Hồng Nhụy, Tôn Nữ Lệ Tuyết, Dương Thị Ngân Hà, Trịnh Thị Diệu Lan, Nguyễn Văn Minh, và Lê Văn Nghĩa.

Hàng thứ hai, từ trái qua: Hồ Đình Biên, ? , Trần Như Ái, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thanh Ngân, Tôn Thất Lan, Huỳnh Phương, Lê Quang Mai, Mai Văn Tánh, Nguyễn Thanh Nguyên, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Văn Sở, và Hà Quý Phú.

(Trong hình chụp năm 1964, nay đã có 7 người vĩnh viễn giả từ bè bạn, đồng nghiệp: Các thầy Đoàn Sùng, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Thanh Nguyên, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Thanh Ngân, Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Minh, và Cô Võ Thị Hồng Nhụy).

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s