Viết về Bạn (Thái Việt)

Anh Nguyễn Hoàng Thịnh & Nguyễn Viết Ninh

Trân trọng giới thiệu đến Qúy Anh Chị tác giả Thái Việt, bút danh của Anh Nguyễn Viết Ninh, Giáo sư VHV, năm nay vừa đúng 75 tuổi.

Anh Ninh định cư ở Montreal, Canada. Tháng vừa qua, anh có mặt ở Huntington Beach thăm gia đình người con gái và đã có gặp một số anh em chúng tôi hai lần (cùng các anh Diên, Hiển, Bích, Đương, Phong, Bội). Trước khi về Anh có gởi lại cho tôi 3 bài viết của Anh, gọi là đóng góp cho Bản Tin của VHV:

1. Bang Bốn Người

2. Tết Đến Một Bông Hồng Cho Bố

3. Hưởng Tuổi Già

Anh cũng còn tặng chúng tôi CD “Người Mẹ ~ Em” thu âm với giọng đọc của Nguyên Nhung, và cho xem hai bài viết khác:

“Ba Lần Về Hà Nội” và “Viết Về Bạn“.

Nguyễn Văn Sở

o O o

VIẾT VỀ BẠN

Tao đã có thẻ “La carte d’or” số G204078, không ai dám bảo tao còn trẻ. Thế mà khi tao viết về Hiệu tao vẫn gọi là MÀY. Gọi bằng mày thi mới viết được, những người bạn mà tao gọi bằng anh, thì chịu thôi tao không thể viết về họ được. Mong mày thông cảm về thái độ “vô lễ” của tao.

Tao nghe thấy tên Hiệu từ hồi nào nhỉ, có lẽ cách đây đã gần nửa thế kỷ, nói chính xác hơn là 48 năm. Tao ở trại Học sinh di cư Gia Long thì anh Hải (anh ruột mày) đến chơi với thằng Cường. Qua câu chuyện giũa hai người tao nghe thấy có nhắc đến tên mày. Thằng Cường nó là Nguyễn tự Cường thì phải, nó người Nông Cống Thanh Hóa cùng quê bên ngoại mày, hình như nó cũng học ở Đào Duy Từ cùng trường với mày thì phải.

Thú thực tao không biết sức học của nó, hồi ở cùng lều F2 vói nó, tao chỉ thấy nó đi học Anh văn ở trường Ziên Hồng của Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh mà thôi, nó không bao giờ học kiểu đi thi như tao. Tao còn nhớ hôm anh Hải đến anh mặc đồ lính đeo lon chuẩn úy, kiểu lon Tây (một vạch có sợi chỉ vắt qua), hai người nói với nhau nhiều kỷ niệm về Thanh Hóa. Cường giới thiệu với tao với anh: cũng dân Hậu phương, cũng con “địa chủ”, nên sau đó tao cũng góp chuyện. Cường với tao hoàn cảnh giống nhau, chỉ có một bố một con; Bố thằng Cường bỏ nhà vào Nam lâu lắm rồi hình như thừ năm 1939 thì phải, nó nói lúc bố nó đi Nam nó còn quá nhỏ, không nhớ gì về bố nó cả, lúc hai bố con gặp nhau tại nhà bà gì nó, bố không biết con, con không hay bố, bà gì nó phải giới thiệu hai bố con mới ôm nhau khóc! Bố nó làm ăn thất bại, hay đi hoạt động cho Việt Minh gì đó nên cũng nghèo không nhà không cửa, không đủ sức nuôi con, nên nó vào trại Gia Long như tao. Qua thằng Cường tao biết anh Hải con nhà đại gia, cả hai bên ông nội ông ngoại đều là Tổng Đốc hay Thượng thư chi đó, đều có đồn điền rộng cả ngàn mẫu, với nhiều tá điền. Tao không hiểu nhà nó có là tá điền của ngoại mày hay không, nhưng thấy nó khen bà cụ nhà mày nhân đức không bao giờ làm khó dễ tá điền thiếu tô, thiếu nợ. Hồi đấu tố tại Thanh Hóa Ông ngoại mày, Bố mày bị đấu chết, còn bố tao chỉ là thày giáo làng, địa chủ tép nên bố con tao trốn đi đước, vào Nam cả một năm sau bố tao mới được hồi ngạch, khi đó tao mới giã từ trại Gia Long.

Tao chẳng hiểu cái duyên nào mà hai thằng mình quen nhau rồi thân nhau vì về địa lý thì tao Thái Nguyên, mày Thanh Hóa, mày phía bắc Trung Kỳ, còn tao thượng du Bắc Việt. Về gia cảnh thì mày thuộc từng lớp siêu, còn tao thì xếp loại dân đen. Về thông minh thì mày thuộc loại thần đồng, tao học cả ngày không thuộc nổi một chữ. Chúng mình gập nhau đầu tiên tại lớp luyện thi Pháp văn của giáo sư Vũ Đình Mẫn ở đường Hồ Xuân Hương đằng sau trường Gia Long. Hai thằng mình ngồi cạnh nhau, tao thấy mày viết tiếng Pháp kinh quá, thày vừa đọc một câu tiếng Việt để trò dịch ra tiếng Pháp là mày đã viết lia viết lịa, trong khi tao vẫn cắn bút, tao ngó sang bài của mày copie như chớp. Để nhỡ có bị gọi lên bảng cũng đỡ ngượng, chứ cours tư đâu có chấm bài cho điểm. Tao tưởng mày họcChuVăn An tối đi học thêm, ai ngờ hỏi ra mày cũng dân lớp 9 Hậu phương như tao, tao phục mày quá! Chương trình Hậu phương bỏ môn Pháp văn từ 1952, sao mi giỏi vậy . Hơn nữa mày trông trẻ hơn tao, nếu mày hơn tao độ vài ba tuổi thì không có chi làm lạ, tuổi như tuổi anh Hải mày hay ông anh tao, họ đã đậu Certificat trước 1945, sau lên Trung học dù Hậu phương hay trong Thành phố thì vẫn học chương trình Hoàng Xuân Hãn y như nhau. Đàn anh của tao như anh Vũ Văn Nguyên đã đậu Trung học tại Thái Nguyên năm 1950, anh dinh tê vào Hà Nội năm 1951 thi đậu Tú Tài I ngay năm đó. Sau này lên Đại học Y là một sinh viên xuất sắc, một Bác sĩ nổi danh!

Tối hôm đó về tao hỏi thằng Cường: có thằng bạn mới tên là Hiệu (hồi đó tao chưa biết họ mày), tao tả cái thằng chầm chập người, có cái nốt ruồi to như hạt đỗ ở trên má cũng dân Hậu phương Thanh Hóa không biết có phải Hiệu em anh Hải không. Nó bảo đúng. Thế là vài hôm sau đến lớp tao nói vanh vách thân thế mày: mày là cháu ngoại một vị Vua con ở một vùng Thanh Hóa, Bố mày du học đậu Đại học bên Tây, mày là người chiếm giải khôi nguyên cuộc thi chuyển từ cấp II lên cấp III ở Khu IV… Tao hết thắc mắc vì sao mày giỏi ngoại ngữ!

Tao nhớ mày đến chơi nhà tao trước, cái căn nhà ở hẻm 414/111 đường Phan Thanh Giản cạnh Bệnh viện Bình Dân, hẻm chỉ có sáu căn nhà, căn thứ hai đầu ngõ là căn nhà của Trung Úy Xuân hồi đó đã có mấy con nhỏ, sau này anh giải ngủ đi học lại Luật, có ra Luật sư thì phải và có viết báo Chính Danh mà mày kiêm cả Chủ Nhiệm lẫn Chủ Bút. Nay anh Dương Đình Xuân ở cùng thành phố với tao, thỉnh thoảng gặp anh đi lễ chùa, một hôm vô tình tao nhắc đến tên mày thế là anh hỏi tới: Anh cũng quen LUI sao… rồi anh xin địa chỉ của mày.

Hôm chủ nhật nào đó hồi 1956 mày đạp chiếc xe đạp đến chơi nhà tao, nghe tiếng gõ cửa…Tao mời mày vào nhà chơi, tao nhớ sáng hôm đó bố tao đi lễ chùa nên tao tiếp mày thoải mái, tao mời mày lên cái gác xép (phòng học của tao), mái lợp tranh, vách hai bên nhờ hàng xóm, phía trước và phía sau đều đóng chấn song, được che bằng cái mành gỗ, cuộn lên khi nóng, cho gió thổi lưu thông nên mát lắm. Tao còn nhớ mày cứ khen lấy khen để nhà đẹp quá, hai bố con ở rộng rãi có phòng riêng biệt, không ai phiền ai. Căn nhà ấy khi bố tao được hồi ngạch, bố tao hỏi vay bạn bè mỗi người một chút mua túp lều cho hai bố con có chỗ trú nắng che mưa, chỉ vài tháng sau bố tao đã trả hết nợ. Được mày khen tao hãnh diện lắm, tao thầm nghĩ nhà mày khi xưa danh giá, giầu có nhưng chạy vào Nam chắc cũng trắng tay bây giờ cũng nghèo thôi vì tao thấy mày cũng mặc quần áo bình thường không có gì sang, vẫn đi xe đạp chứ không Solex, Vespa… như những đúa con nhà giầu khác.

Hôm đó không biết vì lẽ gì, mày cứ buộc tao phải lại nhà mày chơi, tao bảo có hai cái quần kaki vừa giặt chưa khô, chỉ còn cái quần trắng, mặc với cái áo chemise mầu xanh quê lắm… Mày đáp: “Mặc quần nào chả được cần gì hợp mầu, hợp sắc làm gì”. Nghe mày xui dại tao mặc cái quần ủi hồ cứng như cái mo nang, hai ống quần như hai ống sớ, đạp xe kêu sột soạt. Hai cái xe chạy song xong xuôi Phan Thanh Giản rẽ vào Thanh Quan, qua Yên Đổ quẹo vào Đoàn Công Trừng, khu này toàn Villa loại bự, tao ngạc nhiên hết sức thấy cảnh sát chạy ra tay mở cửa, miệng chào hai cậu. Đâm lao phải theo lao, hai cái xe bon bon chạy vào cái sân nhỏ đàng sau biệt thự trước cửa phòng mày. Phòng thực là sang, có xa lông, có bàn học, có tủ lạnh… mày mở tủ lạnh rót hai cốc sô-cô-la, tao một mày một, lần đầu tiên tao uống nước loại này, ngon quá mà không dám khen. Tao không nói gì vì quá nhiều ý nghĩ chạy qua đầu tao: tao thấy bề ngoài mày không có gì là con nhà giầu, từ cách ăn mặc đến thái độ cư xử với anh em. Vậy sao mày lại ở căn nhà quá sang, quá lớn như vậy! Tao lại thấy ông Tây đứng trên balcon chỉ chỉ, trỏ trỏ sai mấy người làm bằng tiếng Việt như gió. Ngó ra góc vườn thấy một cô đầm mũi lõ tóc nâu, đầm trăm phần trăm, đang ngồi bên giá vẽ. Tao không hiểu họ nghĩ gì về tao khi thấy thằng nhà quê như tao, nghĩ vậy tao ngượng chín người. Nếu tao biết trước nhà mày giầu như vậy không bao giờ tao đến, tao ngại cái nhà có treo cái biển “Coi chừng chó giữ” chứ đừng nói đến nhà quan quyền có lính gác.

Mãi sau này tao mới biết bác mày là Bộ Trưởng thời cụ Diệm. Đấy là lần đầu tao đến nhà mày và cũng là lần cuối cùng. Nhưng mày thì đến chơi nhà tao luôn, mày học Pétrus-Ký, tao học Chu Văn An, mày học buổi sáng, tao học buổi chiều.Khi có giờ nghỉ hay cúp cours mày ghé tao tán dóc chơi, hay chủ nhật có phim hay hai thằng rủ nhau đi ciné khi rạp Đại Đồng, lúc rạp Lê Lợi loại permanent, ít khi có tiền đi rạp Đại Nam. .

Đậu xong Tú Tài II với hạng Bình thứ, mẹ mày thưởng cho mày chiếc xe gắn máy, bây giờ tao không nhớ nó hiệu gì tao chỉ nhớ nó nổ to lắm, nên khi mày đến tao không cần gõ cửa, chỉ nghe tiếng máy nổ một cách khác thường là tao biết mày tới, không phải mình tao mà cả ông cụ tao và mấy chú nhóc hàng xóm mà tao dạy luyện thi chúng vào Đệ Thất cùng quen thuộc với tiếng máy nổ của xe mày. Nghe tiếng nổ bành bạch khác thường là chúng đã reo lên: “Bạn cậu giáo tới.”

Khi Bác mày chuyển nhà về Phan Thanh Giản, cạnh trường Gia Long, hàng ngày đi học Luật tao đạp qua nhà mày, khỏi cần bấm chuông chi cả, tao chỉ cần mở cái cửa nhỏ xíu ở phía trên cánh cổng nhìn vào là mày ra hiệu tao chờ rồi phóng xe ra, tao bám vào vai mày để đỡ phải đạp. Tao nhớ chiếc xe này còn tồn tại đến khi mày tập sự Luật sư thì phải…

Tao và một lũ như thằng Liễn, thằng Thắng, thằng Thám… (mười mấy thằng tất cả) đến tuổi vào Thủ Đức, mày còn ít tuổi nên còn tiếp tục tập sự…. Thế là tứ tán tụi mình ít khi gập nhau mày nghề văn, tao nghiệp võ. Mày lên như diều gặp gió: ra Luật sư, mày có văn phòng ngay tại đường Gia Long, thân chủ gạt ra không hết, mày là một trong những Luật sư sáng giá của cái đất Saigòn thủa đó. Rồi năm 1966 mày thắng cử vào Quốc Hội Lập Hiến rồi Lập Pháp, mày giữ chức Chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Định chế (1971-1972). Lên như vậy nhưng mày vẫn nhớ đền bạn bè, mày có quan niệm: đã là bạn mày thì không bao giờ làm bậy, bạn mày gặp nạn bị ra tòa mày hết lòng chạy chọt, mày nói tao không bao giờ xin một ân huệ nào của Thẩm phán cho thân chủ tao, nhưng tao để dành để xin cho bạn tao được tại ngoại hầu tra… Có thằng hai vợ chồng có lúc “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, thuận nhau đến mày nhờ làm thủ tục ra tòa xin ly dị. Mày lưu hồ sơ thật lâu, rồi lựa lời để nối lại sợi dây tình cảm. Hai vợ chồng thằng này, nay con đàn cháu đống, hạnh phúc tràn trề, thỉnh thoảng gặp tao vẫn nhắc đến mày.

Tao còn nhớ hôm tao có nhiệm vụ dẫn một toán vừa lính vừa Cảnh sát vừa Quân cảnh đứng làm nút chặn kiểm soát ngay góc Duy Tân, Trần Quý Cáp cạnh ngay Viện Đại học Saigòn, bỗng một chiếc xe Hoa Kỳ bóng loáng thắng gấp đậu ngay trước mặt tao, cả toán tuần ngạc nhiên tay lăm lăm súng… Mày bước xuống thụi tao một quả, miệng chửi: sư mày gàn vừa vừa chứ. Tao mời mày về làm với tao, làm cố vấn pháp luật cho tao, cho Ủy ban Tư Pháp của Hạ Nghị viện sao mày từ chối, mày nhớ chức vụ này thiếu gì người mơ ước… Tao làm thinh trước sự ngơ ngác của đám tuần tiễu…

Nhớ lại hôm mày lái xe xuống nhà tao ở trong hẻm trường Đại Học Vạn Hạnh, tao đương giặt tã cho con, tay còn dính xà bông, ông cụ tao ra mở cửa cho mày vào, mày lao ngay xuống chỗ có cái sân nhỏ xíu, có bể nước mưa, vòi nước đang chảy, thau chậu ngổn ngang, áo quần cả đống… mày nói vội: “Về làm với tao, không phải làm gì cả, mày cứ ở nhà chơi tháng lĩnh lương, mày nhớ lương to bằng mấy cái lương Trung Úy của mày… tao cho mày nghĩ mai trả lời tao qua điện thoại… bây giờ tao bận lắm tao phải đi ngay”. Tao bảo cho tao suy nghĩ tao sẽ trả lời. Chắc tối hôm ấy mày nghĩ trăm phần trăm tao sẽ OK. Vì bạn bè thân nhau ở Luật, bây giờ đa số làm “hơi lớn”, bét ra cũng Trung tá Cảnh sát trấn đóng ở một tỉnh hay chánh án, dự thẩm, không thì cũng Thiếu Tá Phó ủy viên chính phủ… còn lớn thì Thứ trưởng, Tổng giám đốc… chỉ còn mình tao đeo hai mai vàng lâu qua bị ốc-xít hóa nên đã đổi mầu..

Hôm sau tao cám ơn mày đã nghĩ đến tao, giúp đỡ tao, nhưng tao không nhận chức “ông cố vấn”, mày cúp máy cái rụp… Tao tưởng mày giận tao, nên gặp lại mày thụi tao, mày la tao. Nhưng không, hôm mày làm lễ ra mắt vợ chồng mày với bạn bè (vì lễ cưới chỉ thu hẹp trong họ hàng) tại tư gia, số mời rất hạn chế chỉ độ mươi mười lăm người trong đó có tao. Đa số lái xe hơi, chỉ có một mình tao đi cái xe máy hiệu Ducati của Ý nổ còn to hơn cái xe gắn máy của mày khi xưa, tao lao vào trong sân biệt thự sang trọng ngay gần Đệ Nhất khách sạn, khiến mọi người nhìn ra, tao tỉnh bơ dựa xe vào tường vì xe đã gẫy chân chống! Mày giới thiệu tao với ông Bác mày, với bạn bè mày tao là bạn thân của mày nhưng không giới thiệu chức vụ đó là một lối giới thiệu rất tế nhị vì đa số bạn mày là Dân biểu, Thượng Nghị sĩ, Thứ trưởng, Giám đốc… Tao ngồi ăn uống vui vẻ, góp chuyện xôm trò vì vấn đề đúng vào tần số của tao: “Những người cầm quyền miền Nam không biết gì về Cộng sản” khiến các vị hơi ngạc nhiên cứ ghé tai nhau thì thầm, tao liếc mắt nhìn về chỗ mày ngồi ở đầu bàn gần Ông Bác thấy mày hài lòng ra mặt!…

Thế rồi Mùa Hè đỏ lửa, tụi nhà binh chúng tao bận tụi bụi không có giờ để thở, thế rồi Hiệp ĐịnhParis: Mỹ rút quân để một mình lính VNCH địch với cả tụi Miền Bắc có sự giúp đỡ của cả khối Nga Hoa… Rồi Ban Mê Thuật, rồi rút Pleiku, mất Huế, Đà Nẵng, Nha trang… rồi cửa ngõ Saigòn…

Thú thực với mày khi chúng đến Nha Trang là tao thấy Miền Nam tiêu rồi, tao chẳng tin có giải pháp nào khác, mặc dầu hồi đó có nhiều tin đồn là Pháp nhúng tay vô:Việt Nam chia ba… tao không tin.

Pháo kích vào sân bay Tân Sân Nhất tao liên tục gọi điện toại cho mày, hết ở văn phòng Luật sư, ở Quốc Hội, ở nhà, chuông reo liên hồi mà không ai nhận phôn, tao nghĩ mày đã dọt…

Mồng 2-5 cả mấy anh em nhà mày (trừ anh Hùng) đạp xe xuống tao. Tao ngạc nhiên hết sức! Tại sao còn ở đây! Tại sao còn cả lũ thế này! Theo tao gia đình mày thừa sức để đi diện nào cũng được: thế có thế, tiền có tiền. Chả nhẽ gia đình mày lại không biết cộng sản là gì! Qua bao đau thương ở Thanh Hóa!

Thế là vô tù hết, riêng nhà mày 5 mạng! Người may nhất cũng xé hết 7 cuốn lịch, anh Hải lâu nhất ở đến lúc tất cả các trại học tập đóng cửa không còn chỗ ở mới chịu về, tính ra 17 năm!

Tao vừa hèn vừa chức bé, lại “không thành thực khai báo”, tao nín thở qua sông khi ở trại tù, nín thở ăn bo bo khi về kinh tế mới… ngậm miệng khi học triết học Mác Lê, nên về sớm hơn mày nhiều…

Ra tù tao có đến thăm sức khỏe bà Cụ mày Cụ ở với chị Hùng, anh Hùng cũng chưa về, Cụ vẫn bình thản, da dẻ hồng hào, tao phục Cụ quá. Gần 80 tuổi trải qua bao cay đắng cuộc đời: hồi 1953-1954 bố chết, chồng chết, gia sản tiêu tan, vào Nam hai bàn tay trắng nuôi con thành đạt, rồi tai họa lại ập đến 5 con vừa trai vừa rể lại vô khám. Cái khám nhốt người vô thời hạn, không biết ngày nào ra, người vô không có bản án. Trại tù lại ở Sơn la, Lai châu, Hoàng Liên Sơn… toàn rừng thiêng nước độc…

Mày đã viết:

Trên đỉnh Hoàng Liên Sơn,
Đá không bao giờ mòn.
Thời gian còn mãi đấy,
Không núi nào cao hơn.
Như những người tù ấy,
Muôn thủa tấm lòng son…

Hay:

Ghềnh sâu Bắc-Thái soi gan đá,
Đỉnh dốc Trường- Sơn bạt lũng mây….

Làm sao các bà mẹ không lo cho được! Làm sao bà mẹ ngủ không thức giấc giữa đêm! Cụ kể chuyện về mày: ở trong tù, trong tay người ta mày vẫn ngang bướng, có lần đi thăm lại mang quà về vì mày đang ở trong phòng giam kỷ luật. Tao vừa phục mày vừa xót xa cho mày! Tao biết rõ cái “cũi” này:

“Phòng giam kỷ luật bước vào
Đã qua ngưỡng cửa ai nào trở ra.
Vào rồi thân xác tiêu ma
Khi ra thôi chỉ còn là áo quan.

Thế mà mày không sợ, mày dám vào đến lần thứ ba. Trong truyện “Forgot, Forgotten all” mày có viết:

“Tôi nhớ lại chuyện sau đây xảy ra vào thời gian đó. Lần cuối cùng họ giam tôi vào phòng kỷ luật trong Trại Cải Tạo Z30 A ở ngọn đồi dưới chân núi Chứa Chan ở Xuân Lộc vào tháng 7-1982.

Họ quấy rối sự yên lặng của tôi bằng cách lẻn vào phòng giam sau khi tôi ăn tối khoảng nửa đêm và đánh tôi đến bất tỉnh. Khi tỉnh lại mắt tôi khó mở ra nổi và quanh tôi nồng nặc mùi hôi thối của phân, nước tiểu và máu trộn lẫn nhau.

Đêm sau họ lại đánh tôi như đêm trước, tuy nhiên lần này tôi không bị ói mửa vì hàm tôi không mở ra nổi để nhai những miếng khoai mì khô.

Đêm thứ ba… Tôi nghe thấy chúng thì thầm với nhau:” Dùng thằng này tập võ thay cho bao cát thích hơn. Nó chẳng bao giờ la cả, nó chẳng bao giờ đỡ những cú đánh cả”….Trước khi đánh chúng hỏi tôi: “sao mày không la, sao mày không đỡ.” Thình lình tôi nghe thấy tiếng nói của tôi, chính tiếng nói của tôi, nhỏ nhẹ rõ ràng: “Khi người ta quên bản thân mình đi rồi thì còn gì để mà kêu khóc nữa.”. Tôi chẳng hiểu tại sao, sau khi nghe những lời thốt ra từ cửa miệng tôi bất ngờ như thế những cai tù ngưng đánh tôi.”……

Tao chưa nếm cảnh này, nhưng hồi tao ở Kà-tum, tao đã được chứng kiến: một người bạn tù trốn trại bi bắt lại, bị biệt giam trong cái cũi, bị cùm như Chúa đóng đinh trên thập giá, rồi đánh, đánh liên tiếp mấy ngày liền bằng roi song, có cái lạ đứa cai tù nào lên phiên gác cũng đánh, coi đánh người là một thú vui!… Sắp chết được đưa lên bệnh xá , tao là loại tù già được phân lên nuôi bệnh… Không thể hình dung được, Quang một thanh niên cao lớn vạm vỡ thế mà chỉ có mấy ngày bị hành hạ là liệt nằm không nhúc nhích, mắt nhắm tít không mở, tao phải đổ từng thìa cháo, hắn nuốt khó khăn… Một Bác sĩ tụi mình làm ở bệnh xá lột quần hắn để săn sóc vết thương, hết hồn không còn một miếng thịt nơi mông đít… Vài hôm sau Quang chết… Trong trại tù đủ thứ chết, chết đói, chết bệnh, chết bắn.

Chiều xanh xao màu lá,
Qua một ngày thê lương.
Nhớ anh bạn mới đó,
Đã vùi nông bên đường.
Đội hình về thêm mỏng,
Người mất đi mỗi ngày.
Ở nơi biệt giam mà mày vẫn làm thơ:
Ba nhớ hai con đến mỏi mòn,
Xà lim đêm lạnh thấm cô đơn.
Thoảng mơ vườn hạnh vừa đây đó,
Tiếng khóa cùm chân đã dập dồn.

Mày không biết, hôm tao đến chơi thăm Cụ và hỏi về tin tức gia đình anh em mày. Cụ coi tao như con, Cụ thổ lộ hết, Cụ nói: vợ con Toàn, gia đình chú Huỳnh đã thoát, còn vợ con mày đi chuyến khác hai con mày đã ra đi tại biển Đông, nay vợ mày như điên như dại khi đến đảo. Nước mắt tràn ra hai má người già, làm tao cũng khóc theo. Cụ khen mày là đứa con hiếu thảo, mày cứ lo cho Mẹ ở nhà có sống nổi không, nên khi gửi ảnh gia đình mày qui định Mẹ phải ngồi bên trái hay bên phải chị Hùng bế cháu nào, mày mới yên tâm. Nhưng lần này mày không thể kiểm chứng được vì cả nhà dấu mày đưa toàn tin vui, mọi người đã đi thoát…

Lúc mày làm bài thơ này con mày hai con mày đã vĩnh viễn đi xa không bao giờ gặp lại Ba nó nữa, làm gì còn “vườn hạnh” Hiệu ơi! Chua xót quá!

Ra khỏi tù, trở về với gia đình, mày nhận được tin sét đánh! mày có nói với tao: “Nếu tao biết sự tình này ở trong tù chắc tao không đủ can đảm để sống nữa…” Rồi mày lại hăng hái lao vào hoạt động , mày liên lạc lại với các bạn tù của mày, một tổ chức đã hình thành ngay trong trại giam ở miền Bắc để tương trợ giúp đỡ nhau. Tao thấy mày vui vẻ trở lại, bạn bè mừng cho mày… mãi sau này đọc trong tập thơ của mày tao mới biết bên trong cái bề ngoài vui vẻ đó, khi mày về lại căn phòng xưa kia hàng đêm vợ con sum họp làm sao làm sao cầm lòng cho nổi. Mày đã than thở:

Anh ngả đầu trên gối phấn hương,
Mong sao cho mộng những yêu thương.
Em đi tuyết xuống vào nhung nhớ,
Anh lại trăng lên đến chán chường.
Để sống ra người đành phải thế,
Mà buồn theo lệ cứ còn vương,
Trở đầu úp mặt trong lòng gối.
Chả kiếm đâu ra giấc ngủ thường.

Mày cô đơn vì gia đình tan nát, vì một số chiến hữu của mày thề thốt khi xưa nay cũng đã vượt biển ra đi:

…………………………..

Một mình anh với một mình anh,
Trời cao trăng bạc mỏng manh phố buồn.
Đêm về tiếng lặng cô đơn,
Vài con thuyền bến hợp tan mấy mùa.
Đường dài nước sũng sau mưa,
Hẻm nghèo heo hút vẫn chưa lên đèn.

Tao hiểu không nhầm ý mày, hai câu cuối của bài thơ này, nói lên cái khó khăn của mày chưa tìm được ánh sáng chiếu rọi cho phương thức hành động để đi cho đến nơi đến chốn….Tao cũng hiểu mày, mày không thể làm cách mạng được, mày có thể chịu khổ, chịu tù đầy, chịu đòn tra tấn, chịu hy sinh thân mày. Nhưng với bạn bè, với gia đình bè bạn mày rất ngại, hậu quả sẽ ra sao khi thất bại… Nghĩ đến đó mày chùn tay, mày không muốn: “Không thành công thì thành nhân”, mày không ham cái danh tiếng đó… Gia đình mày đã bao người là nạn nhân của cái danh. Trong truyện: “A Mountain Trip” mày có nhắc lai lời khuyên của Ông ngoại mày: “Có tiếng tăm cá nhân, không quí bằng tránh tiếng đi, tuy nhiên tránh tiếng đi lại còn thua là đừng có tiếng tăm gì cả.”

Hôm gặp mày tại Santa Ana sau gần 20 năm mới gặp lại, nhanh quá mới hôm nào tao còn nhớ tại sân ga Saigòn, mày đọc bài thơ tiễn Ông cụ tao về Bắc, tao còn nhớ mấy câu

………………………….

Người đi về quê cũ,
Sao lòng thấy xa xôi.
Gió may thay mầu lá,
Lá vàng bay đơn côi.
Cụ già sa nước mắt,
Cầm tay tôi không lời,
Có gì đâu mất mát,
Cho tuổi ngoài tám mươi…

Chính lần gặp lại này tao và mày có nhiều thời giờ để nói với nhau những điều chưa bao giờ nói. Mày bảo tao chỉ bây giờ ở tuổi này, cái tuổi “ăn tiền già”, tụi mình ôn lại quãng đời qua: tao thấy mày đừng tiếc gì khi không ra được Luật sư, ra được Luật sư thì mày làm được gì, có một chút tiền đấy nhưng liệu mày có giữ được không, hay cũng tay trắng như tao bây giờ, ở nhà Housing, đi nhà thương thí… Tao đã quyết không trở lại nghề Luật khi sang Mỹ, tao đi học nghề viết văn, tao đi học môn sáng tác… Trong truyện “The Gift Of Dreaming”, mày có kể lại một ông Bác sĩ bạn mày đã sống ở Hoa kỳ này 18 năm nay đã đi xe Mercedes, ở biệt thự , có phòng đọc sách khang trang vói cả ngàn cuốn sách đóng gáy vàng tuyệt đẹp, rất thân tình chỉ vào kệ sách nói với mày: “Ngay cả những cuốn sách này bạn ạ, những sách được viết bởi những người Mỹ rất nổi tiếng ở châu Âu và nơi đây, cũng chẳng cần đọc làm chi. Sách thì muốn đọc đấy nhưng làm gì có thời giờ. Những cuốn sách này chỉ dùng để trang trí mà thôi…” Tao thì tao chịu, khi sang đến Canada tao đã 48 tuổi với tuổi này tao chịu dốt, tao vui vẻ đi làm cu li để nuôi lũ con tao. Mày sang sau tao nhiều, lúc mày tới Mỹ mày đã qua cái tuổi “tri thiên mệnh”, mày học lại từ đầu: mày tốt nghiệp A.A. Philosophy hạng danh dự tại ChaffeyCollege, B.A. in English Writing hạng Ưu tại University of Redlands, rồi mày viết văn. Tao đọc được bài: “The Black Cat and I” đăng trên một tờ báo Mỹ, tao phục mày quá… Tao nghĩ mày đã nghe theo lời khuyên của ông anh con Ông bác mày: “Em Nguyễn đừng nản chí nhé, chú “lừa nhỏ” của anh. Em không nên làm ngược lại ý anh. Anh ước mong em hãy cố gắng học tiếng Anh và viết về những kinh nghiệm của đời em.” Mày đã cho tao xem cả ngàn trang bản thảo bằng tiếng Anh viết về những gì mà anh mày mong đợi… Mày sẽ có chỗ đứng trong xã hội Mỹ với chức Giảng sư tại một trường Đại học Mỹ… Nhưng trời ghen tài của mày, mày ngã bệnh hiểm nghèo, ngay sau khi qua được kỳ Interview đầy khó khăn của trường Đại học. Mày kể chuyện cho tao nghe: “Sau khi giải phẫu, sức khỏe bình phục, tao trở lại trường nhận việc, không hiểu tại sao có một sự kiện rất nhỏ mà nó lại cản trở con đường tao đang đi. Hôm ấy tao lái xe đến trường vào gập ông Viện trưởng, ông vui vẻ tiếp tao, vẫn còn job dành cho tao, lúc về ông thân tiễn tao ra xe… Không mở được cửa xe vì tao để quên chìa khóa ở trong, tao yêu cầu ông gọi technician của trường ra mở giùm. Ông trả lời: “Gọi điện thoại về nhà đem chìa khóa second ra là hay nhất, vì giờ này làm sao mà kiếm được hắn”. Tao quên số điện thoại của chính tao!… Ông đích thân lái xe đưa tao về nhà tao, đó là lần cuối cùng… sự liên lạc giữa không những tao và Ông, mà cả các văn hữu khác cũng chấm dứt từ đấy! Không một cú phôn thăm hỏi hay nhắc nhở gì đến việc làm. Chủ nghĩa thực dụng là thế đó”.

Bây giờ tao hiểu tại sao khi mày gọi điện thoại cho bất cứ đứa bạn học cũ nào mày cũng mời tới thăm mày, mày thường nói: “Bây giờ vui nhất là có bạn cũ đến chơi tán dóc, nói chuyện ngày xửa ngày xưa…” Mà vui thật tao ở với mày gần một tháng mà thời gian trôi quá nhanh, nói đủ thứ chuyện: chuyện đọc sách nào hay, tác phẩm nào nay đang thuộc loại best seller, thằng nào từ hồi ra trường đến nay vẫn chưa gập lại, thằng nào chết trong trại tù, thằng nào chết khi vượt biển, cả chuyện tình của tao mà tao lại không hay mà mày thì biết, vui là chỗ đó: Mày nhắc đi nhắc lại hoài tao mê cô tập sự Luật sư tại văn phòng mày mà không dám tỏ tình cứ đứng ở đầu ngõ nhìn cô mỗi buổi sáng cho đến khi cô khuất bóng, cô ra tòa khoe: “Sao có anh chàng sĩ quan nhảy dù đa tình thế!” (Nhà cô ta và nhà tôi cùng một xóm nhưng khác ngõ). Tao không hiểu vì sao có chuyện ngộ vậy, có hôm tao đến văn phòng mày bằng xe zíp có tài xế hẳn hoi, mấy cô Luật sư cứ đấm lưng nhau thùm thụp và cười khúc khích khi mày tiễn tao ra cửa, chúng mình còn nán nói chuyện trên vỉa hè. Tao không ngờ tao lại có giá như vậy, tao tưởng cuộc đời lính tráng của tao làm sao được mấy cô Luật sư trí thức thành phố để mắt. Đúng là chuyện con gái dù con gái Luật sư vẫn thích có chàng trai nào làm cái đuôi.. dù trong mộng. Hồi ấy nếu tao biết chuyện đó mà mày làm mai biết đâu lại nên duyên thì cuộc đời tao không biết ra sao! Hay tao lại khổ vì nàng quá thông minh, có tham vọng lớn nàng thúc tao phải chạy nhanh cho kịp thời cơ, mà tao là con trâu làm sao chạy nhanh cho nổi, tao kiệt sức đứt ruột có khi tao ngoẻo từ lâu rồi, đâu còn ngồi chuyện gẫu với mày nữa… Mày còn kể chuyện mày ra tranh cử ở Long Xuyên, thánh địa của Phật Giáo Hòa Hảo mà mày thắng nhờ có thêm 4 ngàn phiếu của Công giáo của Đức cha Thuận chỉ thị cho người cháu vận động dồn cho mày, tao phục mày sát đất. Tao tránh không nhắc tới chuyện con cái cho mày khỏi buồn, bỗng dưng có hôm mày than: “Đời không sướng gì hơn là có con”, tao vờ như không nghe thấy. Tao lảng sang chuyện khác, chuyện thằng Thắng dịch bài “Trường Hận Ca” của Bạch Cư Dị có thể vượt Tản Đà… Thế là mày lái xe đưa tao đến nhà thằng Thắng xa đến15 km để xem bản dịch của nó. Tao đóng vai “không biết thì dựa cột mà nghe”, nghe mà khoái cái lỗ tai, nó đọc một câu dịch thì mày đọc ngay câu trong nguyên tác. Các câu đối nhau từng chữ, cả cái vận đi của thơ vẫn giữ được như nguyên tác, hai thằng mày khoái trá vỗ tay chan chát. Thế mà lúc đòi bản dịch, Thắng nói chưa xong, còn phải “ủ vài tháng nữa…”

Có lúc tao hỏi mày hồi 75 tại sao mày không đi? mày không trả lời vào câu hỏi mà ngâm lại bài thơ mày làm từ hồi ký hiệp định Paris1973:

……………………………………………………

Hiệp định Paris cuối cùng rồi cũng xé,
Thua thiệt nhất vẫn dân mình nhỏ bé.

……………………………………………………

Các trại tập trung,các thể kiên giam,
Tàn nhẫn nhất loài người có được.
Vẫn không thể cho anh bỏ nước,
Mỏi mòn từng bước tha phương.
Dù sống trăm điều cơ cực,
Cũng xin cùng tủi nhục với quê hương.
Nước non này cùng lắm tất thông,
Trời hiện hữu lòng anh phẳng lặng.

Tao là thằng rất ngại đi xa, 19 năm kể từ ngày rời nước, lần này tao mới lại bay cả ngàn cây số sang gặp chúng mày tại ba tiểu bang khác nhau, thực đáng đồng tiền bát gạo. Gặp tụi mày tao thấy tụi mày giỏi hơn xưa nhiều quá, mỗi thằng tài về một khía cạnh, chẳng đứa nào giống đứa nào, nhưng không mâu thuẫn nhau mà bổ túc cho nhau hòa vào nhau làm cho nhau phong phú hơn. Khoái là ở chỗ đó! Thằng nào cũng nói với tao: “Sau cuộcNam du này về mày sẽ viết nhiều hơn”. Chúng mày khôn thấy mẹ, sao chúng mày không viết lại xúi dại tao, chúng mày thừa biết viết khác đọc nhiều lắm. Ngồi viết một lúc lâu đau muốn gẫy cái thắt lưng, còn nằm mà đọc coi như là uống thuốc an thần ru các mi vào giấc ngủ… Tao viết chẳng qua là cái nghiệp, chắc kiếp trước tao hay xé sách của tiền nhân, kiếp này phải chép lại các chương tao đã phá…

Tao cũng rất mừng cho mọi đứa con cái đã trưởng thành, đã có con có cháu, có nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền… Trừ thằng Hiệu “khi trẻ bay cao, bây giờ hạ cánh buồn ơi là buồn.” Hôm ra về tao đánh thức mày dậy, mày còn lơ mơ do effet secondaire của mấy viên thuốc uống tối qua. Mày tiễn tao, khép cửa lại, rồi trở lại giường tiếp tục ngủ lại cho dã thuốc. Ra đến cầu thang máy, tao không cầm được nước mắt, tao khóc trước mặt mấy bà Đầm Mỹ, tao không ngượng, làm gì mà ngượng, khi mình khóc thành thực, khóc thương người bạn già của mình bây giờ sống cô đơn nơi đất khách quê người.

Thái Việt

Advertisements

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s