Mít (Tôn Thất Diên)

Mít là một trong những đặc sản của Việt Nam, hầu như người Việt nào cũng thích. Tại Huế, và cả những vùng chung quanh Huế cũng như ở các huyện trong tỉnh Thừa Thiên, hễ nhà có vườn thì thế nào trong vườn cũng trồng ít nhất một hai cây mít, đôi khi cả vài chục cây. Đến mùa mít chin, mùi thơm thoang thoảng bao trùm cả một vùng làm cho bao nhiêu ngưòi phải uống nước thêm để bù vào chỗ nước miếng chảy ra. Xứ Huế thời những năm sau 1945, dân còn nghèo nên học sinh trai cũng như gái đang sức lớn, luôn luôn thèm ăn thêm cái gì đó cho quên đói, mà phải là thứ không mất tiền mua vì đâu có tiền. Vậy là phải kiếm các thứ trái cây mọc hoang hoặc không đem bán được vì chẳng ai mua, như trái chín của cây ngũ sắc mọc hai bên đưòng, màu đen ăn rất ngọt và mát; hoặc trái của cây phượng có hoa màu đỏ nở rộ mỗi mùa hè trước các sân trường khi hết năm học, hoa thì liên hệ đến tình cảm học sinh qua các bài thơ hay những câu viết tặng nhau khi chia tay ai về nhà nấy nghỉ hè mấy tháng, còn trái thì cũng giúp no bụng nhưng cũng khó khăn vất vả mới có ăn. Cùng lắm là ổi sẻ (hạng bét trong các loại ổi), trái thì nhỏ cở ngón chân cái với cái võ mỏng tanh chát ngắt mà bên trong lại chứa cà một kho hột cứng ngắt, cho không ai thèm lấy, nhai muốn gãy hết răng mà chẳng thấy ngon lành chỗ nào. Tuy nhiên, có mà ăn thì cũng giúp cái bụng chịu nằm êm, thôi cồn cào, nhưng khổ một điều là nuốt vào thi quá dễ và khoái (không khoái thì dại gì mà ăn) mà tống nó ra thì ôi thôi cái mặt đỏ gay, hàm răng nghiến chặt, chảy cà nước mắt, lòng hẹn lòng từ nay xin chừa mà rồi vì đói chẳng chừa được. Ngoài ổi, phải kể đến mít, không phải trái mít chin cây bán ở chợ mà là trái mít cám, còn gọi là mít đẹt, nhỏ cở ngón tay cái, chỉ chờ rụng chứ không thể lớn thành trái chín. Mít cám chấm muối ớt ăn cũng ngon lành, đương nhiên là hơn ổi sẻ, nhưng cũng thuộc loại khổ, cho vào thì dễ mà đuổi ra thì vất vả. Có tiền thì đương nhiên là sướng rồi, ăn được trái mít ngon chin cây thì ‘ôi chao răng mà sướng rứa trời ơi’, nhất là gặp trái mít ráo gai to, múi mít vàng sậm mọng nước vừa ngọt vừa thơm, phải cắn cẩn thận để nước không trào ra khỏi miệng, phí phạm. Gặp trái mít ướt thì… thôi cũng được, thà có ăn còn hơn đứng nhìn người khác. Và còn nhiều điều để nói về mít lắm nhưng …

Chủ yếu của bài viết này lại không phải về trái mít mà về con người, nhưng cũng không phải những người bị chê là mít đặc, có nghĩa là dốt. “Đối tượng” của bài viết là chính chúng ta, người Việt Nam. Chắc chúng ta ai cũng còn nhớ có một thời trong chương trình giáo dục ở bậc trung học có môn sinh ngữ bắt buộc là Pháp văn. Hình như hồi đó, chữ Pháp dùng đề nói đến người Việt Nam là Annamite, rồi lâu sau đó mới dần dần bị thay bằng chữ Vietnamien. Có phải vậy không, các bạn? Có gì sai, xin các bạn vui lòng chỉ giáo. Cái tiếng Annamite nghe thật chối tai đầy vẻ miệt thị do các quan thực dân Pháp dùng để gọi chung người Việt Nam. Nguồn gốc của chữ này có lẽ có liên quan đến thời kỳ nước ta bị người “láng giếng tử tế” phương Bắc cai trị qua một cơ quan mang tên “An Nam đô hộ phủ”. Khi thực dân Pháp chiếm nước ta, chúng áp dụng chính sách “chia để trị” nên tách Việt Nam làm 3 phần với ba tên gọi: miền Bắc là Tonkin, tức là Đông Kinh (?); miền Trung là Annam; và miến Nam là Cochinchine. Về người bản xứ thì các quan thực dân dùng các chữ Tonkinois cho miền Bắc, Cochinchinois cho miền Nam, và không hiểu sao chúng không gọi người miền Trung là Annamois cho luôn vần –ois mà lại gọi trại ra thành Annamite. Người Việt bình dân ở thành thị hay người Việt ở quê ít học thời đó, nghe chữ Annamite không lọt tai ví thấy nó dài giòng, nên ấm ức đem nó ra chặt hết đầu mình chỉ giữ phần đuôi để gọi cho gọn thành chữ ‘mít’. Thuận tiện quá, nên chữ ‘mít’ đã được dùng khá phổ biến với hai thái độ trái ngược, hoặc miệt thị hoặc mỉa mai, để nói đến người Việt Nam. Đó là một giai đoạn nhục nhã khi phải làm dân bị trị của ngoại bang. Xét cho cùng, nếu so sánh với thời kỳ bị trị của ‘nội bang’ cộng sản hiện nay thì nỗi nhục nhã bây giờ cay đắng và tồi tệ hơn rất nhiều. Thực dân Pháp tự hào đã đem văn minh đến giáo hóa người Việt Nam, về phương diện này, sự thật có phần nào đúng. Chúng ta đã chấp nhận một số ảnh hưởng tốt nơi người Pháp, đặc biệt là các triêt gia và nhà văn. Qua 80 năm đô hộ, thực dân Pháp đã bóc lột dân ta nhiều nhưng cũng đóng góp vào việc canh tân đất nước ta, nổi bật nhất là việc áp dụng chữ viết theo mẫu tự abc. Phải khách quan thừa nhận đó là một bước ngoặt rất quan trọng trong tiến trình đi lên cũa dân tộc ta, ít ra ở hai phương diện: môt là việc giáo dục của chúng ta đã có hiệu quả nhanh và gọn hơn nhiều, loại bỏ hình thức học và thi kiểu từ chương quá phìền phức và trì trệ, tạo cho chúng ta một chỗ đứng độc đáo ở Á châu khiến nhiều dân tộc lân bang vừa nể nang vừa ganh tị; và hai là tạo cơ hội nghìn năm một thuở cho chúng ta tách biệt hẵn với người láng giếng “tốt bụng” phương Bắc về chữ viết nhưng vẫn cho phép chúng ta làm phong phú thêm ngôn ngữ Việt mà không bị lệ thuộc. Trong khi đó, với gần 70 năm (1945 đến nay) áp đặt chế độ độc tài tàn bạo lên một phần rồi toàn thể đất nước, nhóm cộng sản Việt Nam chỉ có gây tang thương chết chóc và phá hoại qua mấy cuộc chiến tranh khốc liệt, và khi không còn cơ hội giết hại dân bằng súng đạn thì lại ức hiếp dân tàn tệ bằng những hành động cướp bóc trắng trợn hay vơ vét tài sản của đất nước qua một hệ thống tham nhũng trơ tráo. Đảng Cộng sản Việt Nam đúng ra không nên tự nhận là một phần của người Việt Nam. Mang ngoại hình là người Việt nhưng những thành phần có quyền và trách nhiệm trong đảng lại hành xử hoàn toàn như kẻ thù của người Việt, toàn những điều xấu xa, không có một tí gì đáng để cho dân tộc Việt Nam chấp nhận là đồng bào theo nghĩa người cùng một nguồn gốc, một tổ tiên. Tạm thời, hãy gạt họ ra một bên. Và vì họ nên việc nhận định về đồng bào trong nước cũng tạm thời ngưng lại.

Thế giới có nhiều nước, tất nhiên là nhiều dân tộc. Từ xưa đến nay, chưa có một giống dân nào được xem là thánh thiện, có nghĩa là chỉ gồm toàn người tốt mà thôi. Làm gì có chuyện dân tộc siêu đẳng như Hitler từng lấy cớ gán cho dân tộc Đức để giết hàng triệu người Do Thái và gây ra cuộc Thế chiến thứ 2 làm điêu đứng cả thế giới. Nước Mỹ thắng cuộc chiến và đã dang rộng tay cứu giúp rất nhiều người, kể cả kẻ thù cũ, với một tấm lòng vị tha rất đáng khâm phục. Nhưng lòng vị tha của Mỹ có thật thánh thiện không? Chính người Mỹ xác nhận là không, họ giúp người khác thật lòng nhưng có tính toán vì quyền lợi riêng của họ. Điều này xét ra không có gì sai cả, đơn giản là nước Mỹ và dân tộc Mỹ cũng cần phải tồn tại, và muốn vậy thì không thể nhắm mắt làm theo trái tim mà không cho đầu óc tính toán. Điều đáng buồn là cái thế giới chúng ta đang sống vẫn còn chứa rất nhiều những thành phần muốn làm hại nước Mỹ, muốn tiêu diệt dân tộc Mỹ. Công bằng mà xét, dân tộc Mỹ rộng lượng và tốt, có lúc không được tốt lắm, có lúc lại quá tốt, nhưng chắc chắn chưa phải là thánh thiện và có thể không bao giờ như vậy. Làm một dân tộc tốt cũng đã là khó rồi.

Trở lại với người Việt Nam, chúng ta nghĩ thế nào đây về dân ta? Cũng như tất cả các dân tộc khác, chúng ta chắc chắn cũng có cái tốt và cái xấu, mỗi thứ nhiều hay ít khó mà cân đo chính xác, nhưng tuyệt đối chúng ta không phải là thứ dân mạt hạng, như cái chế độ thối nát hiện nay ở trong nước đang ra sức “lập công” dìm dân ta xuống xấp xỉ gần đó. Trong nhận định, cả hai thái cực tốt nhất hay xấu nhất đều không nằm trong tiềm năng của chúng ta, cón ở mức trung bình thì chúng ta có vẻ có nhiều cái tốt hơn. Dĩ nhiên tốt thì chúng ta hãnh diện, tự hào, còn xấu thì phải hỗ thẹn chấp nhận và tìm cách sửa đổi. Tuy nhiên, điều thiết yếu là phải hết sức tránh tình trạng lạc quan hay bi quan thái quá. Lạc quan theo kiểu hãnh diện ra đường là gặp ngay anh hùng hay tự hào vì dân ta là những đỉnh cao trí tuệ thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Bản tính dân ta khiêm tốn nên không bao giờ tự nhận mình là anh hùng mà phải để người khác đánh giá, để biết ai xứng đáng mà tôn thờ làm anh hùng, để được muôn dân nhớ ơn, căn cứ trên hành động thiết thực là sự hy sinh cao cả cho quê hương dân tộc, chứ không dựa vào những lời khoác lác, huênh hoang, rỗng tuếch, giả dối. Về phương diện đỉnh cao trí tuệ thì hầu hết người Việt Nam, có thể đền 99%, không ai có can đãm tự nhận mình là ngu kiểu ngược đời như vậy, còn nếu thành thật tự gán cho mình là như vậy thì quá lắm chỉ có 1% gồm những kẻ không biết tự trọng hay liêm sỉ là gì, hoặc nếu biết thì thật là xấu hỗ.

Không lạc quan thái quá, vậy có nên bi quan theo kiểu viết sách viết báo nêu hết những thói quen xấu vì thiếu giáo dục như nói lớn tiếng, khạc nhổ ngoài đường, thích khoe trương cái bụng phệ cho mọi người thán phục… để sỉ nhục dân mình hay chăng? Vạch áo cho người xem lưng xét ra không nên, vì chỉ cần chú tâm thực hiện giáo dục công dân phổ quát là đủ.Với dân số hơn 80 triệu người mà đa số là người trẻ, chúng ta không có gì đáng lo vì con em chúng ta phần lớn rất dễ dạy bảo. Cứ nhìn số người Việt Nam sống tạm ở ngoại quốc, có ai chê chúng ta về những thói xấu đâu. Điễn hình là trong vụ Trần Trường ở Nam Cali năm 1999 với khoảng 50 ngàn người tham gia biểu tình liên tục ngày đêm trong nhiều tuần lễ, bị hầu hết các cơ quan truyền thông lớn của Mỹ theo dõi với thái độ xoi mói để bêu xấu, rốt cuộc chúng ta lại được quảng cáo tốt mà không tốn một xu. (Một điều bí ẩn là tại sao cờ đỏ và hình già Hồ bị dẹp, trái ngược với điều mà y đã làm để thách thức cộng đồng Việt Nam, dựa trên quyền tự do phát biểu được hiến pháp Mỹ bảo vệ.) Dù gì đi nữa thì người Việt hải ngoại đã ghi được một điểm tốt, xứng đáng là những người nối dõi truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đối với người ở trong nước, như đã nói ở trên, thì vì họ đang ở trong nhà tù khổng lồ nên tạm thời chưa xét đến. Lý do là ông bà chúng ta có nói, cam xã Đoài thì phải trồng ở xã Đoài mới ngon ngọt. Dân Mít mà do cộng sản giáo dục thì cũng như đem giống cam ngọt trồng nơi đất đỏ sa mạc, cây không chết là may.

Chúng ta có quyền khen dân ta, không phải kiểu ‘mèo khen mèo dài đuôi’, mà chì là để nhận dạng những đức tính tốt căn bản có tính cách truyền thống để phát huy thêm nữa hay ít ra phải duy trì cho được. Nhưng phát huy cái tốt, và cả sữa đổi cái xấu, không phải là việc dễ dàng, vì cần ít nhất 3 yếu tố: suy tư để nhận định, quyết tâm thực hiện, và thời gian để hoàn thiện. Việc suy tư nhận định đôi khi không đi đền chỗ dứt khoát vì quan niệm, tình cảm, hay vì chủ quan hoặc thành kiến. Xin đơn cử một trường hợp xảy ra trước năm 1975 tôi có biết. Một ông phó trưởng chi công an quận, có người em gái làm dâu một gia đình được phát hiện là Việt cộng nằm vùng, lợi dụng bề ngoài là tiệm buôn để cho cán bộ gặp nhau trao đổi tài liệu và cà nhóm họp. Người em yêu chồng nên bao che gia đình chồng, người anh thương em nên do dự không muốn phá hạnh phúc gia đình em. Cả hai anh em biết là họ phạm lỗi nhưng vì tình cảm cá nhân, họ không có quyết tâm làm điều hợp pháp, nên lơ vụ Việt cộng nằm vùng, một thời gian sau chúng nó mới bị bắt. Một trường hợp khác tôi được nghe chính đương sự kể lại trong trại tù cải tạo Xuân Phước khoảng năm 1981. Ông ta là phó trưởng ty công an của một tỉnh miền Trung, được tiếp thu sau năm 1956 nên Việt cộng gài lại khá đông và thường xuyên quấy rối an ninh. Nhờ chương trình chiêu hồi nên một số cán binh lần lượt ra trình diện lẻ tẻ. Ông cho chúng được ở chung nhau, tự do trò chuyện. nhưng cho nhân viên giả làm chiêu hồi trà trộn để bí mật ghi nhận tên nào giả vờ chiêu hồi. Sau buổi lễ long trọng, cố tình tổ chức vào buổi chiều để lỡ chuyến xe đò, có đủ các màn xé cờ đỏ và tuyên thệ trung thành với chính phủ quốc gia, nhận giấy căn cước tạm cùng tiền lộ phí về quê, ông cho đưa tất cả vào nghỉ đêm trong 2 phòng, gom riêng những tên giả chiêu hồi trong một phòng. Khoảng 9 giờ tối, ông đem bia có pha thuốc ngũ vào cho chúng uống để chúc mừng, rồi đến 1giờ khuya, ông đem 2 nhân viên thân tín đến bỏ mỗi tên vào một bao bố, nhét thâm vài viên gạch, rồi cột thật chặt đưa lên xe chở thẳng ra tàu đem thả xuống biển cho mất tích. Ông biết là ông làm chuyện thất đức và phi pháp có thể mất chức và ở tù, nhưng ông phải làm để dân chúng được yên ổn. Theo ông, tình hình an ninh có được cải thiện. Câu chuyện nghe có vẻ thật, chứng tỏ phần nhận định của ông đã bị lệch lạc vì tình cảm, nhưng không phải cá nhân. Hành động của hai ông công an Việt Nam nêu trên tốt hay xấu? Chủ quan hay khách quan khi cho rằng họ làm tốt về mặt tình cảm, nhưng xấu trên phương diện kỷ luật, hay ngược lại?

Tôn Thất Diên

Bạn đọc góp ý:

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s